Chương 1 NHUNG VAN DE CHUNG VE NGUYÊN TAC KIEM SAT VIỆC TUẦN THEO PHAP LUAT TRONG TO TUNG DAN SỰ 1. Khái niệm, ý nghĩa của nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự 1. Khái niệm nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong to tụng dân sự Bất kỳ hoạt động có mục đích nào muốn đạt được kết quả, đòi hỏi những người tham gia hoạt động phải xác định được các nguyên tắc hoạt động và tuân thủ triệt dé nó. Theo nghĩa chung nhất, nguyên tắc được hiểu là "diéu cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc lam".
Như vậy, nguyên tắc được hiểu với nghĩa là tư tưởng chỉ đạo, qui tắc cơ bản của một hoạt động nào đó. Đó là những tư tưởng chỉ đạo cơ bản, mang tính xuất phát điểm, định hướng, xuyên suốt toàn bộ hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật. Nguyên tắc của Luật TTDS được hiểu là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng xuyên suốt trong toàn bộ quá trình nhận thức, xây dựng và thực hiện pháp luật TTDS. Các nguyên tắc cơ bản của Luật TTDS được ghi nhận trong BLTTDS năm 2004 thành một chế định riêng biệt (tại Chương II).
BLTTDS năm 2004 (được sửa đổi, b6 sung năm 2011) quy định 23 nguyên tắc cơ bản của Luật TTDS Việt Nam, từ Điều 3 đến Điều 24. BLTTDS năm 2015 quy định 25 nguyên tắc cơ bản. Trong số 25 nguyên tắc cơ bản, nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS được quy định tại Điều 21 BLTTDS với nội dung: "Diéu 21. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tô tụng dân sự 1.
Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tổ tụng dán sự, thực hiện các quyên yêu câu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật. Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm doi với những vụ án do Tòa án tiễn hành thu thập chứng cứ hoặc 1. Theo Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, tr. đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyên sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mắt năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, lam chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này.
Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thấm, giảm đốc thẩm, tái thẩm. Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao hướng dan thi hành Điều này". Như vậy, quy định này đã khăng định VKSND là cơ quan chịu trách nhiệm KSVTTPL trong TTDS; các hoạt động TTDS của những người tiễn hành TTDS va những người tham gia TTDS là đối tượng của hoạt động kiểm sát của VKSND. Cụ thé hóa nguyên tắc nay, BLTTDS năm 2015 cũng đã có những quy định cụ thé về trách nhiệm, thâm quyền của VKSND trong TTDS.
Pháp luật TTDS quy định tương đối đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của các chủ thé. Khi tham gia quan hệ pháp luật TTDS, các chủ thé thực hiện các quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định dé bảo vệ quyền, lợi ích của chính mình hoặc của tổ chức, cá nhân khác. Tuy nhiên, hoạt động TTDS - hoạt động giải quyết các vụ việc dân sự là hoạt động thực tiễn khá đa dạng và phức tạp, dễ xâm phạm đến quyên, lợi ích hợp pháp của tô chức, cá nhân nên đòi hỏi phải có một cơ chế thích hợp dé kiểm tra, giám sát nhằm bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự được kip thời, đúng pháp luật, đó là hoạt động KSVTTPL của Tòa án và các chủ thể khác của TTDS do VKSND thực hiện. Nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS là một bảo đảm pháp lý quan trọng dé hoạt động TTDS được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật TTDS, nó phải được quán triệt xuyên suốt trong quá trình TTDS.
KSVTTPL trong TTDS là giám sát, kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ đối với hành vi của các chủ thê tiễn hành và tham gia tố tụng, đối với văn bản áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc dân sự của chủ thê tiến hành tố tụng và đó là hình thức thực hiện quyền lực Nhà nước, một trong những hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND. Mục đích của hoạt động KSVTTPL trong TTDS là nhằm bảo đảm cho các hành vi xử sự của các chủ thể tiến hành, tham gia tô tụng và văn bản áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc dan sự được thực hiện theo quy định của pháp luật. Nội dung hoạt động KSVTTPL trong TTDS là việc VKSND sử dụng các biện pháp, quyền năng pháp lý do BLTTDS quy định dé kip thời phat hiện và loại bỏ vi phạm, tiêu cực của cơ quan, người tiễn hành tố tụng và những người tham gia tố tụng, nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Với những phân tích trên đây, có thể đưa ra định nghĩa về nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS như sau: Nguyên tắc KSVTTPL trong tô tụng dân sự là tư tưởng chỉ đạo, xuyên suốt trong quá trình TTDS; là cơ chế pháp lý (kiểm tra, giám sát) do chủ thé duy nhất là VKSND thực hiện thông qua việc sử dụng các biện pháp, quyên năng pháp lý do pháp luật TTDS quy định nhằm ngăn ngừa, phát hiện và loại bỏ vi phạm, tiêu cực của cơ quan, người tiễn hành to tung và những người tham gia tổ tụng, nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự nhanh chóng, kịp thời và đúng quy định của pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyên và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Từ định nghĩa trên đây, có thể rút ra các đặc điểm của nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS, đó là: (1) là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá trình TTDS giải quyết các vụ việc dân sự; (2) là cơ chế pháp lý (kiểm tra, giám sát trong TTDS) do chủ thể duy nhất là VKSND thực hiện; (3) Nội dung là việc sử dụng các biện pháp, quyền năng pháp lý do BLTTDS quy định nhằm ngăn ngừa, phát hiện và loại bỏ vi phạm, tiêu cực của cơ quan, người tiễn hành tố tung và những người tham gia tố tụng; (4) mục đích là nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự nhanh chóng, kịp thời và đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự; (5) được ghi nhận và thé hiện thông qua các quy phạm của pháp luật TTDS. Ý nghĩa của nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tô tụng dán sự Việc ghi nhận KSVTTPL trong TTDS là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTDS có ý nghĩa rất quan trọng, thê hiện ở các nội dung sau đây: Một là, nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS là sự cụ thể hóa quy định của Điều 107 Hiến pháp năm 2013 về nhiệm vụ và chức năng của VKSND: "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyên công tố, kiểm sát hoạt động tu pháp ". "Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyên con người, quyên công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ich hợp pháp của tô chức, cá nhân, góp phan bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thong nhất". Hai là, Nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS là một hình thức kiểm soát việc thực hiện quyên lực Nhà nước trong lĩnh vực hoạt động tư pháp giải quyết các vụ việc dân sự.
Đồng thời là cơ chế pháp lý (kiểm tra, giám sát) bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tô chức, cá nhân. Hoạt động KSVTTPL trong TTDS góp phần phát hiện và đây lùi sự lạm quyền, những tiêu cực, vi phạm trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án, người tiễn hành tố tụng và người tham gia tố tụng, qua đó bảo vệ tính thượng tôn pháp luật, đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất. Ba là, nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS thé hiện sự can thiệp của Nhà nước vào lĩnh vực TTDS trong đó có việc sử dụng các biện pháp, quyền năng pháp lý của VKSND. Bốn là, nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS là nền tảng, định hướng, cơ sở cho việc xây dựng các quy định cụ thê về trách nhiệm, quyền hạn và các biện pháp mà VKSND tiến hành KSVTTPL đối với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tô tụng trong quá trình TTDS giải quyết vụ việc dân sự.
Nam là, việc vi phạm nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS có thé là căn cứ dé hủy bỏ phán quyết của Tòa án. Thực trạng pháp luật Việt Nam về nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự 1. Các quy định về kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại Tòa án cấp sơ thấm Trong thủ tục sơ thầm giải quyết vụ việc dân sự, VKSND thực hiện KSVTTPL thông qua các hoạt động: Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự; Kiểm sát việc thụ lý vụ việc dân sự; Kiểm sát việc xác minh, thu thập chứng cứ; Kiểm sát các bản án, quyết định; Tham gia phiên tòa, phiên họp; Thực hiện quyền yêu cầu, quyền kiến nghị. Các quy định về kiểm sát việc thụ ly vụ việc dan sự * Các quy định về kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện Quyền khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự là quyền cơ bản của chủ thé có quyên lợi bị xâm phạm.
Do vậy, về nguyên tắc thì dé bảo đảm quyền này Tòa án phải thụ lý vụ việc để giải quyết. Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định trong một số trường hợp nhất định thì Tòa án có quyên trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và Tòa án cũng chỉ có quyền trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu trong những trường hợp đã được nhà lập pháp ấn định. Trả lại đơn khởi kiện là hành vi tố tụng của Tòa án, theo đó Tòa án từ chối quyền khởi kiện vụ án dân sự của người khởi kiện khi có căn cứ trả lại đơn khởi kiện mà BLTTDS quy định.