CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE CHUNG VE THU LÝ VU ÁN DAN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm va ý nghĩa của thu lý vu án dân sự 1. Khai niệm thụ lý vụ an dân sự Đề làm rõ khái niệm thụ lý vụ án dân sự, cần làm rõ khái niệm “vụ án dan sự” (VADS) va “thu 1”. Thuật ngữ VADS được dé cập trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự năm 1989 (PLTTGQVADS) bao gồm các tranh chấp, yêu cầu dân sự được Tòa án thụ lý giải quyết như: Tranh chấp về quyền sở hữu, hợp đồng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc những tranh chấp khác, việc xác định công dân đã chết hoặc mất tích.
Bởi theo PLTTGQVADS không có sự phân biệt giữa quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết vụ án dân sự và việc dân sự. BLTTDS năm 2004 được ban hành, trong đó Điều 1 quy định: “Bộ ludt to tụng dân sự quy định những nguyên tac cơ bản trong tô tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Toà án giải quyết các vụ án vé tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cau dé Toà án giải quyết các việc về yêu câu dân su, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dan sw); trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc dan sự) tại Toà án”. Nhu vậy, BLTTDS năm 2004 quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự (VVDS) và thuật ngữ vụ việc dân sự đã được BLTTDS ghi nhận chính thức. Khái niệm vụ việc dân sự bao gồm VADS và việc dân sự; trong đó, VADS là các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động được quy định thuộc thâm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục TTDS và được Tòa án thụ lý giải quyết.
Việc dân sự là việc riêng của các cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp nhưng yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tô chức khác; yêu câu Tòa án công nhận hoặc không công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động được pháp luật quy định thuộc thâm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục TTDS và được Tòa án thụ lý, giải quyết. Việc phân biệt vụ án dân sự và việc dân sự dé ap dung cac thu tuc tố tụng khác nhau dé giải quyết. Như vậy, vụ án dân sự là những tranh chấp phát sinh từ những quan hệ pháp luật dan sự dan sự, hôn nhân va gia đình, kinh doanh thương mai và lao động được Tòa án thụ ly, giải quyết theo don khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tô chức nhằm yêu cau Tòa án bảo vệ quyển và lợi ích hợp pháp của mình, của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước. Thụ lý VADS là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền giải quyết các VADS.
Khái niệm “thụ lý? VADS có mối quan hệ biện chứng với quyền khởi kiện của chủ thể pháp luật. Có thể nói, chỉ khi quyền khởi kiện của chủ thé pháp luật được thực thi thì mới có hoạt động thụ lý VADS của các cơ quan tiễn hành tổ tụng. Và ngược lại, chỉ khi hoạt động thụ lý được thực hiện thì quyền khởi kiện của chủ thé pháp luật mới được thực hiện và quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thê mới có khả năng được đảm bảo. Theo nghĩa chung nhất, thi “thu 1ý là tiếp nhận giải quyết vụ kiện”', là việc Toà án bắt đầu nhận trách nhiệm giải quyết VADS.
Dưới góc độ pháp lý, “thu ly vụ án là bắt đâu tiếp nhận một vụ việc để xem xét giải quyết. Theo pháp luật tô tụng dân sự, thụ lý vụ án là việc Toà dân sự nhận đơn yêu cầu của đương sự dé nghị xem xét, giải quyét một vu việc dé bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, tổ chức, cơ quan””. Theo cách hiểu này thì thụ lý VADS là việc Toa án tiếp nhận đơn đề nghị của đương sự dé xem xét giải quyết. Tuy nhiên, cách giải thích này chưa phân biệt được thụ lý VADS và thụ lý việc dân sự.
Khi nghiên cứu về khái niệm thụ lý VADS cũng tổn tại các quan điểm khác nhau như: ' Viện Ngôn ngữ học: Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, Hà Nội - Đà Nẵng, tr. * Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp: Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa - Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr 732.
Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Thu lý vụ an dân sự là hành vi to tung cua Toà án chấp nhận đơn khởi kiện của đương sự và như vậy đã chính thức rang buộc trách nhiệm của các chủ thể vào các quan hệ to tung. Việc thu ly là bước khỏi điểm lam phát sinh các quan hệ pháp luật tô tung dân sự. Mặc dù vậy, nói một cách chính xác thì thụ lý gôm có nhiêu hành vi tổ tụng được diễn ra trong thời hạn nhất định, do đó nó được coi như là một giai đoạn to tung nhớ”. Quan điểm thứ hai cho rằng: “Thu lý vụ án dân sự là việc Toà an nhận đơn khởi kiện của người khởi kiện và vào số thụ lý vụ án dé giải quyết”.
Có thể thấy, các quan điểm này đã nói lên một cách tương đối thống nhất về nội dung cơ bản của khái niệm thụ lý VADS, đó là việc chấp nhận đơn khởi kiện của đương sự dé xem xét. Tuy nhiên, ở quan điểm thứ nhất tác giả mới chỉ đề cập đến việc Toà án chấp nhận đơn khởi kiện của đương sự nhưng chưa đề cập đến các hoạt động cơ bản của việc thụ lý VADS. Quan điểm thứ hai đã nêu được các bước cơ bản của việc thụ lý VADS bao gồm nhận đơn và vào số thụ lý. Song quan điểm thứ hai cũng chưa phân biệt được thụ lý VADS và thụ lý việc dân sự.
Hơn nữa thụ lý VADS không chỉ là việc nhận đơn khởi kiện và vào số thụ lý vụ án, mà dé vào số thụ lý vụ án phải trải qua thủ tục xem xét đơn khởi kiện. Theo quy định của pháp luật TTDS, khi có tranh chấp dân sự thì người có quyền khởi kiện phải làm đơn khởi kiện để yêu cầu Tòa án có thâm quyền thụ lý, giải quyết nhăm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình hay của người khác. Tòa án phải tiễn hành thụ lý và giải quyết theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định đối với các đơn khởi kiện của các chủ thể có quyền. Thông thường, các chủ thể có quyền lựa chọn Tòa án để yêu cầu bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của mình khi có mẫu thuẫn, tranh chấp phát sinh từ lĩnh vực dân sự thuộc thâm quyền giải quyết của Toà án.(Khác với yêu câu giải quyết việc dân sự, các chủ thể sẽ làm don yêu cau giải quyết việc dân sự và Tòa án sẽ tiến hành thụ lý đơn yêu cẩu theo thủ tục khác với thủ tục thụ , Téng Công Cường, Luật tố tụng dân sự Việt Nam, nghiên cứu so sánh, NXB Đại học quốc gia TP.
Hồ Chí Minh; tr 315. “Truong Đại học Luật Hà Nội (2012) Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, NXB CAND, Hà Nội; tr 247. Khi nhận được đơn khởi kiện và các chứng cứ, tài liệu kèm theo thì Toà án phải vào số nhận đơn và xem xét trong thời han do pháp luật quy định. Tòa án sẽ phải kiểm tra tính đầy đủ và hợp pháp của hồ sơ khởi kiện, xác định các điều kiện dé thụ lý VADS như: điều kiện về quyền khởi kiện của chủ thé; điều kiện về thẩm quyền; điều kiện sự việc chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thâm quyền khác.
Trong trường hợp thấy vụ án thuộc thâm quyền của mình thì Toà án phải thông báo cho người khởi kiện biết để họ nộp tiền tạm ứng án phi (ừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tam ứng án phi). Sau khi người khởi kiện nộp cho Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí thì Toà án vào số thụ lý VADS. Các hoạt động đó của Toà án được gọi là trình tự, thủ tục thụ lý VADS. Chủ thé xem xét đơn khởi kiện, tài liệu chứng cứ dé quyết định có thụ lý hay không thụ lý, luật TTDS không quy định cụ thé người có thâm quyền của Tòa án có trách nhiệm thụ lý VADS xem xét đơn khởi kiện.
Ở Việt Nam, trước BLTTDS năm 2015, pháp luật TTDS không quy định cụ thé người có thâm quyền của Tòa án có quyền và trách nhiệm tiễn hành thụ lý VADS là ai. Cho đến BLTTDS năm 2015, quy định người có thâm quyền xem xét thụ lý VADS là Thâm phán xem xét đơn khởi kiện. Thụ lý VADS là công việc đầu tiên của Toà án trong quá trình tố tụng. Nếu không có việc thụ lý vụ án thì Toà án sẽ không có các bước tiếp theo của quá trình tố tụng.
Thụ lý VADS bao gồm các hoạt động cơ bản là nhận đơn khởi kiện, xem xét và vào số thụ lý vụ án. Các hoạt động này bao gồm nhiều công đoạn nhỏ như tiếp nhận đơn khởi kiện, kiểm tra nội dung đơn đã đầy đủ điều kiện của luật định hay chưa, Toà án nhận những tài liệu chứng cứ ban đầu kèm theo đơn khởi kiện, thông báo về việc nộp tiền tạm ứng án phí và vào s6 thụ ly. Như vậy, thời điểm Tòa án đã vào số thụ lý VADS là cơ sở pháp lý để ràng buộc các chủ thể vào trong một mối quan hệ cụ thể được điều chỉnh bằng pháp luật TTDS. Trong mối quan hệ này, Toà án là chủ thể thực hiện quyền lực nhà nước thông qua việc thụ lý giải quyết tranh chấp và yêu cầu dân sự.
10 Các quyết định của Toà án có tính chất bắt buộc đối với các bên. Hoạt động này làm phát sinh quyền và nghĩa vụ t6 tụng của các chủ thé và đặt trách nhiệm giải quyết vụ án cho Toà án trong đúng thời hạn luật định.