Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Khởi kiện vụ án dân sự và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân Quận Hà Đông" do sinh viên Hoàng Khánh Linh thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Phan Thanh Dương tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2025), thuộc chuyên ngành Luật Tố tụng dân sự.
Trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển, các quan hệ dân sự mở rộng kéo theo sự gia tăng về số lượng và tính chất phức tạp của các tranh chấp. Khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền là phương thức pháp lý chủ yếu để các chủ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 đã thể chế hóa quan điểm cải cách tư pháp của Đảng, mở rộng phạm vi chủ thể có quyền khởi kiện và cụ thể hóa các điều kiện thụ lý. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng vẫn bộc lộ nhiều vướng mắc liên quan đến xác định năng lực chủ thể khởi kiện, phạm vi ủy quyền, quyền khởi kiện lại, cũng như thủ tục tiếp nhận, xử lý đơn tại cấp cơ sở. Việc lựa chọn khảo cứu thực tiễn tại Tòa án nhân dân (TAND) quận Hà Đông xuất phát từ thực tế đây là đơn vị Tòa án cấp huyện có số lượng vụ việc thụ lý lớn, đa dạng, phản ánh rõ nét thực trạng áp dụng pháp luật sơ thẩm.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là làm sáng tỏ các khía cạnh lý luận và thực tiễn về quyền khởi kiện vụ án dân sự theo BLTTDS năm 2015; đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật tại TAND quận Hà Đông; chỉ ra các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật cùng cơ chế thực thi.
Để đạt được mục tiêu trên, khóa luận xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ những cơ sở lý luận căn bản về quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự, bao gồm khái niệm, đặc điểm pháp lý, ý nghĩa của việc khởi kiện vụ án dân sự và lý do pháp luật cần thiết phải ghi nhận quyền này.
- Phân tích, bình luận và hệ thống hóa các quy định hiện hành trong BLTTDS năm 2015 có liên quan đến quyền khởi kiện vụ án dân sự.
- Khảo cứu thực tiễn thực hiện quyền khởi kiện tại TAND quận Hà Đông, chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong việc tiếp nhận, xử lý và thụ lý đơn khởi kiện.
- Rút ra những vấn đề bất cập còn tồn tại trong quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và cải thiện cơ chế thực thi nhằm bảo đảm quyền khởi kiện được vận hành minh bạch, hiệu quả.
Về đối tượng nghiên cứu, đề tài tập trung vào hệ thống các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành của Việt Nam điều chỉnh quyền khởi kiện (chủ thể, điều kiện, phạm vi, hình thức, thủ tục), các văn bản hướng dẫn thi hành, nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao, cùng các hồ sơ, số liệu thụ lý xét xử thực tế.
Về phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật tại TAND quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
- Thời gian: Các quy định pháp luật và số liệu thực tiễn được xem xét từ thời điểm BLTTDS năm 2015 có hiệu lực thi hành cho đến năm 2023 – 2025.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được triển khai dựa trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, cùng các chủ trương, định hướng cải cách tư pháp của Đảng, trọng tâm là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020".
Về khung lý thuyết và văn bản quy phạm pháp luật, tác giả kế thừa và vận dụng hệ thống lý luận về quyền tiếp cận công lý và quyền khởi kiện được ghi nhận tại Điều 8 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948; Điều 14 và Điều 102 Hiến pháp năm 2013; các quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 (Điều 11, 74, 83, 101, 134–141, 210, 211); BLTTDS năm 2015 (các Điều 4, 186, 187, 188, 189, 190, 192, 218, 317, 465); Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023; Luật Đất đai năm 2024; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP; Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP và Công văn số 02/2021/TANDTC-PC. Khóa luận cũng tiếp thu các công trình lý luận của các học giả như TS. Hoàng Ngọc Thỉnh, TS. Phan Chí Hiếu, PGS. Bùi Thị Huyền, ThS. Huỳnh Thị Nam Hải.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Dùng để mổ xẻ nội dung các điều luật, quy định tố tụng và khái quát hóa thành các tiêu chí, đặc điểm lý luận.
- Phương pháp lịch sử: Theo dõi sự chuyển biến của khái niệm "vụ kiện dân sự", "vụ án dân sự" từ Sắc lệnh số 85 năm 1950, Luật Tổ chức TAND năm 1960, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 đến BLTTDS năm 2004 và 2015.
- Phương pháp logic và quy nạp: Đánh giá mối quan hệ nhân quả giữa quy định pháp luật và hiệu quả thụ lý trên thực tế.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu sự khác biệt giữa các giai đoạn lập pháp (BLTTDS 2004 và 2015) và so sánh các quan điểm khoa học pháp lý trái chiều.
- Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp số liệu thụ lý, giải quyết đơn khởi kiện của TAND tối cao và TAND quận Hà Đông.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu gồm dữ liệu sơ cấp từ thực tiễn tiếp nhận và thụ lý vụ việc dân sự tại TAND quận Hà Đông năm 2022–2023; dữ liệu thứ cấp từ Báo cáo tổng kết công tác năm 2023 của ngành Tòa án nhân dân và các tài liệu chuyên khảo, tạp chí pháp luật chuyên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về khởi kiện vụ án dân sự
Chương 1 xây dựng hệ thống khái niệm, bản chất pháp lý và ý nghĩa của quyền khởi kiện vụ án dân sự (VADS). Tác giả tổng hợp các quan điểm học thuật và đưa ra định nghĩa: Khởi kiện VADS là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác.
Khóa luận phân tích 6 đặc điểm pháp lý cốt lõi của hoạt động khởi kiện VADS:
- Là cơ sở làm phát sinh thủ tục sơ thẩm giải quyết VADS tại Tòa án; nếu không có hành vi nộp đơn, quan hệ pháp luật tố tụng dân sự không thể khởi động.
- Là hoạt động do các chủ thể có quyền thực hiện theo luật định (yêu cầu cả năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự).
- Là hoạt động tố tụng thể hiện quyền tự do định đoạt của đương sự; đương sự có toàn quyền khởi kiện, rút đơn hoặc thay đổi yêu cầu.
- Đối tượng khởi kiện là quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm hoặc bị tranh chấp.
- Hoạt động khởi kiện bắt buộc phải tuân theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật tố tụng quy định.
- Là phương thức văn minh thay thế cho các hành vi giải quyết xung đột tự phát trong xã hội.
Bên cạnh đó, chương này luận giải cơ sở pháp lý và thực tiễn của quyền khởi kiện, nhấn mạnh nguyên tắc tiến bộ tại Điều 4 BLTTDS 2015: "Tòa án không được từ chối thụ lý với lý do chưa có điều luật để áp dụng". Tác giả cũng chỉ rõ 3 nhóm yếu tố tác động trực tiếp đến hiệu quả khởi kiện: tính hoàn thiện, đồng bộ của hệ thống pháp luật; năng lực nhận thức và thực hiện quyền tố tụng của người dân; và năng lực tổ chức tiếp nhận, thụ lý của cơ quan Tòa án.
Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về khởi kiện vụ án dân sự
Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy định của BLTTDS năm 2015 về điều kiện, phạm vi, hình thức và thủ tục khởi kiện:
Điều kiện đối với chủ thể khởi kiện: Cá nhân khởi kiện phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự (từ đủ 18 tuổi trở lên, không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi). Cơ quan, tổ chức khởi kiện phải có tư cách pháp nhân theo Điều 74 BLDS 2015. Pháp luật cũng mở rộng quyền khởi kiện cho các chủ thể nhằm bảo vệ quyền lợi của người khác, lợi ích công cộng và Nhà nước (cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em; Hội Liên hiệp Phụ nữ; tổ chức đại diện tập thể lao động; tổ chức xã hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng).
Tác giả phân tích sâu một tranh luận pháp lý lớn xung quanh Điều 186 và Điều 189 BLTTDS 2015:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng người đại diện theo ủy quyền có quyền trực tiếp ký hoặc điểm chỉ vào đơn khởi kiện thay cho người khởi kiện có đầy đủ năng lực hành vi.
- Quan điểm thứ hai cho rằng việc ký đơn là quyền nhân thân, cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi phải tự mình ký/điểm chỉ, việc ủy quyền chỉ có hiệu lực sau khi Tòa án thụ lý vụ án.
Tác giả bày tỏ sự đồng tình với quan điểm thứ nhất, lập luận rằng quyền con người và quyền dân sự chỉ bị hạn chế theo quy định của luật vì lý do quốc phòng, an ninh, trật tự xã hội (Điều 14 Hiến pháp 2013 và Điều 2 BLDS 2015). Ngoại trừ việc ly hôn không được ủy quyền theo khoản 4 Điều 85 BLTTDS, pháp luật không cấm ủy quyền làm và ký đơn khởi kiện.
Về phạm vi khởi kiện (Điều 188): Pháp luật cho phép ghép nhiều yêu cầu hoặc nhiều chủ thể cùng tham gia trong một vụ án nếu các quan hệ pháp luật có liên quan. Tác giả chỉ ra tính hai mặt: vừa tiết kiệm chi phí, tránh xét xử mâu thuẫn, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ kéo dài thời gian giải quyết do chứng cứ phức tạp và có thể làm phát sinh xung đột quyền lợi giữa các đương sự.
Về hình thức, thủ tục và khởi kiện lại: Đơn khởi kiện phải đáp ứng hình thức tại Điều 189 và có thể nộp qua 3 phương thức (trực tiếp, dịch vụ bưu chính, cổng thông tin điện tử theo Điều 190). Thời hạn nộp tạm ứng án phí là 07 ngày kể từ ngày nhận thông báo (Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14); Thẩm phán có tối đa 05 ngày làm việc để nghiên cứu đơn và ra quyết định. Đáng chú ý, chương này chỉ ra bất cập tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS 2015 và Công văn số 02/2021/TANDTC-PC khi tước bỏ quyền khởi kiện lại của nguyên đơn trong trường hợp bị đình chỉ giải quyết do không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản, cũng như việc thiếu quy định rõ ràng về giá trị của quyết định trọng tài thương mại khi xem xét trả lại đơn khởi kiện.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định về khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân Quận Hà Đông
Chương 3 mô tả cụ thể bộ máy và quy trình tiếp nhận đơn tại TAND quận Hà Đông:
- Cơ sở vật chất: Bố trí phòng tiếp công dân tại sảnh chính trụ sở; liền kề là bộ phận văn thư công khai niêm yết biểu mẫu (Mẫu số 24-DS).
- Nhân sự: Phân công 01 Thư ký Tòa án thường trực tại bộ phận văn thư; các Thẩm phán luân phiên trực tiếp tiếp công dân và nhận đơn vào các ngày cố định trong tuần theo quy định nội bộ.
- Phân loại luân chuyển: Đơn trực tiếp do Thẩm phán trực tiếp nhận, kiểm tra sơ bộ, viết giấy nhận đơn, chuyển bộ phận thụ lý vào sổ và trình Phó Chánh án phụ trách. Đơn bưu điện do văn thư vào sổ công văn đến, chuyển bộ phận thụ lý phân loại rồi trình lãnh đạo. Thẩm phán được phân công có thời hạn tối đa 05 ngày làm việc để nghiên cứu hồ sơ và đề xuất thụ lý, yêu cầu sửa đổi bổ sung hoặc trả lại đơn. Trường hợp thụ lý, thông báo được gửi cho đương sự và Viện kiểm sát nhân dân trong 03 ngày làm việc.
Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật, tác giả chỉ rõ các hạn chế lớn tại đơn vị:
- Khó khăn trong việc xác định tư cách khởi kiện của người đại diện "dòng họ" đối với tranh chấp tài sản chung của cộng đồng (nhà thờ họ, đất hương hỏa) theo Điều 211 BLDS 2015 và Luật Đất đai 2024. BLDS 2015 đã bãi bỏ tư cách chủ thể của hộ gia đình và tổ hợp tác, chỉ giữ lại cá nhân và pháp nhân; khái niệm "dòng họ" mang tính trừu tượng, không có tư cách pháp nhân, dẫn đến tình trạng Tòa án lúng túng khi xử lý đơn do trưởng họ hoặc đại diện chi họ đứng tên mà không có sự ủy quyền của toàn bộ thành viên.
- Vi phạm thời hạn giải quyết: Còn tình trạng giải quyết đơn quá thời hạn luật định do lỗi chủ quan của cán bộ; chậm trễ trong việc chuyển giao văn bản tố tụng, hồ sơ và bản án cho đương sự, Viện kiểm sát và cơ quan thi hành án dân sự.
- Một số bản án tuyên chưa thật sự rõ ràng, gây khó khăn cho giai đoạn thi hành án.
Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các kiến nghị hoàn thiện: hướng dẫn rõ tư cách khởi kiện của đại diện dòng họ; sửa đổi khoản 1 Điều 218 BLTTDS 2015 nhằm khôi phục quyền khởi kiện lại cho đương sự không nộp tạm ứng chi phí định giá; cho phép người đại diện theo ủy quyền ký đơn khởi kiện; tăng cường tập huấn chuyên môn, cải cách thủ tục hành chính tư pháp và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong việc nhận đơn điện tử.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận tổng hợp và công bố hệ thống số liệu cụ thể phản ánh kết quả công tác thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự trong năm 2023 của ngành Tòa án nhân dân và TAND quận Hà Đông:
| Tiêu chí thống kê |
Toàn ngành Tòa án nhân dân (Năm 2023) |
Tòa án nhân dân Quận Hà Đông (Năm 2023) |
| Tổng số vụ việc thụ lý |
606.209 vụ việc |
Khoảng 387 vụ việc |
| Tổng số vụ việc giải quyết |
540.490 vụ việc |
345 vụ việc |
| Tỷ lệ giải quyết chung |
89,16% |
89,16% (tăng 0,26% so với năm 2022) |
| Số lượng vụ án dân sự đã giải quyết |
408.070 / 468.828 vụ việc dân sự (87,04%) |
87 vụ án |
| Số lượng vụ việc Hôn nhân và gia đình |
Không phân tách riêng trong số liệu tổng |
132 vụ án và 99 việc HNGĐ |
| Số lượng vụ án Kinh doanh thương mại |
Không phân tách riêng trong số liệu tổng |
27 vụ án |
| Tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy, sửa do lỗi chủ quan |
0,89% (đáp ứng chỉ tiêu Quốc hội) |
0,89% (đáp ứng chỉ tiêu dưới 1,5%) |
| Số vụ việc tăng so với năm 2022 |
Giải quyết tăng 35.490 vụ việc |
Thụ lý tăng 25 vụ (6,8%); giải quyết tăng 23 vụ |
| Kết quả thi hành Luật Hòa giải, đối thoại |
Giải quyết 119.058/129.856 đơn (91,68%); hòa giải thành 63.030 vụ; rút đơn 14.490 vụ |
Thực hiện theo quy trình chung của ngành |
| Áp dụng biện pháp xử lý hành chính |
Giải quyết 28.395 / 28.401 hồ sơ (99,98%) |
Triển khai khẩn trương, đúng quy định |
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở các điểm sau:
- Làm sáng tỏ xung đột lý luận giữa quy định về quyền ủy quyền tại BLDS 2015, Điều 186 BLTTDS và quy định về chữ ký trên đơn khởi kiện tại Điều 189 BLTTDS 2015, đưa ra lập luận thuyết phục bảo vệ quyền ủy quyền ký đơn của cá nhân.
- Nhận diện trực diện khoảng trống pháp lý đối với tranh chấp tài sản của "dòng họ" khi BLDS 2015 thu hẹp chủ thể tham gia giao dịch chỉ còn cá nhân và pháp nhân.
- Phân tích bất cập của hướng dẫn tại Công văn số 02/2021/TANDTC-PC liên quan đến hậu quả pháp lý của việc không nộp chi phí tố tụng khác đối với quyền khởi kiện lại.
- Cung cấp bức tranh thực tiễn chi tiết về quy trình tiếp nhận, luân chuyển và xử lý đơn sơ thẩm tại TAND quận Hà Đông, góp phần bổ sung cứ liệu thực chứng cho nghiên cứu luật tố tụng dân sự ở cấp Tòa án cơ sở.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự xác định các giới hạn nghiên cứu xuất phát từ phạm vi đề tài:
- Về phạm vi không gian, việc khảo cứu thực tiễn chỉ giới hạn tại một đơn vị hành chính duy nhất là TAND quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, do đó các phát hiện về mặt tổ chức cán bộ và quy trình nội bộ có thể mang tính đặc thù của địa phương, chưa phản ánh đầy đủ thực trạng tại các Tòa án nhân dân cấp huyện ở khu vực nông thôn hoặc miền núi.
- Về phạm vi nội dung, đề tài tập trung vào giai đoạn khởi kiện và tiếp nhận, xử lý đơn vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm; chưa bao quát toàn diện thủ tục giải quyết các việc dân sự hoặc các giai đoạn tố tụng tiếp theo như xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm.
Hướng nghiên cứu tiếp nối có thể mở rộng khảo sát thực tiễn tại nhiều đơn vị Tòa án cấp huyện thuộc các vùng kinh tế - xã hội khác nhau; đánh giá chuyên sâu hơn về hiệu quả thực thi cơ chế nộp đơn khởi kiện trực tuyến qua cổng thông tin điện tử Tòa án; và xây dựng cơ chế tố tụng đặc thù giải quyết tranh chấp tài sản cộng đồng dòng họ.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật, đặc biệt là bộ môn Luật Tố tụng dân sự và Luật Dân sự, trong việc nghiên cứu chế định khởi kiện, quyền tiếp cận công lý và điều kiện thụ lý vụ án dân sự.
- Người làm công tác thực tiễn (Luật sư, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, cán bộ tiếp dân) tham khảo quy trình phân loại, xử lý đơn khởi kiện, quy định thời hạn tạm ứng án phí và cách thức xử lý đơn chưa hợp lệ.
- Phần đáng tham khảo nhất là các mục phân tích tranh luận pháp lý tại Chương 2 (về quyền ký đơn khởi kiện của người đại diện theo ủy quyền, quyền khởi kiện lại) và bảng tổng kết quy trình nghiệp vụ tiếp nhận đơn, thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai dòng họ tại Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác giả khóa luận ủng hộ quan điểm nào về quyền ký đơn khởi kiện của người đại diện theo ủy quyền?
Tác giả đồng tình với quan điểm cho rằng người đại diện theo ủy quyền có quyền ký hoặc điểm chỉ vào đơn khởi kiện thay cho người khởi kiện. Căn cứ pháp lý được tác giả viện dẫn là khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 và khoản 2 Điều 2 BLDS năm 2015 (quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật vì lý do quốc phòng, trật tự xã hội). Ngoại trừ việc ly hôn đương sự không được ủy quyền theo khoản 4 Điều 85 BLTTDS, pháp luật không cấm cá nhân ủy quyền làm và ký đơn khởi kiện.
2. Trong năm 2023, Tòa án nhân dân quận Hà Đông đã thụ lý và giải quyết bao nhiêu vụ việc, cơ cấu ra sao?
Theo số liệu trong khóa luận, năm 2023, TAND quận Hà Đông đã thụ lý khoảng 387 vụ việc và giải quyết được 345 vụ việc (đạt tỷ lệ 89,16%, tăng 0,26% so với năm 2022). Trong số 345 vụ việc đã giải quyết, có 87 vụ án dân sự, 132 vụ án Hôn nhân và gia đình, 99 việc Hôn nhân và gia đình, và 27 vụ án Kinh doanh thương mại.
3. Quy trình tiếp nhận đơn khởi kiện nộp trực tiếp tại TAND quận Hà Đông được thực hiện như thế nào?
Tòa án bố trí phòng tiếp dân tại sảnh chính. Vào các ngày tiếp dân theo lịch cố định, một Thẩm phán được phân công trực tiếp tiếp nhận đơn, hướng dẫn sơ bộ, phân loại đơn và lập giấy nhận đơn (Mẫu số 24-DS). Đơn sau đó được chuyển đến bộ phận thụ lý để vào sổ nhận đơn và chuyển tiếp cho Phó Chánh án phụ trách lĩnh vực để trình Chánh án phân công Thẩm phán thụ lý, nghiên cứu trong thời hạn tối đa 05 ngày làm việc.
4. Khó khăn pháp lý lớn nhất khi khởi kiện tranh chấp tài sản của "dòng họ" được chỉ ra là gì?
BLDS năm 2015 đã thu hẹp chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, chỉ công nhận cá nhân và pháp nhân (bãi bỏ tư cách chủ thể của hộ gia đình, tổ hợp tác). Khái niệm "dòng họ" mang tính trừu tượng, không có tư cách pháp nhân và không được định nghĩa rõ ràng trong luật. Do đó, khi phát sinh tranh chấp nhà thờ họ hoặc đất hương hỏa theo Điều 211 BLDS 2015 và Luật Đất đai 2024, các Tòa án rất lúng túng trong việc xác định ai là người có quyền đứng đơn khởi kiện và liệu có bắt buộc phải có văn bản ủy quyền của toàn bộ thành viên trong dòng họ hay không.
5. Khóa luận kiến nghị sửa đổi và hủy bỏ văn bản hướng dẫn nào liên quan đến quyền khởi kiện lại vụ án dân sự?
Khóa luận kiến nghị sửa đổi quy định tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS năm 2015 và hủy bỏ giải đáp tại mục 5 phần IV Công văn số 02/2021/TANDTC-PC ngày 02/08/2021. Tác giả cho rằng việc tước bỏ quyền khởi kiện lại của đương sự khi bị đình chỉ vụ án do "không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác" là không hợp lý, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Khánh Linh là công trình nghiên cứu chuyên khảo có kết cấu chặt chẽ, kết hợp hài hòa giữa cơ sở lý luận tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử sơ thẩm tại Tòa án nhân dân quận Hà Đông. Tác giả đã hệ thống hóa toàn diện các quy định về điều kiện, phạm vi và thủ tục khởi kiện theo BLTTDS năm 2015, đồng thời phát hiện những xung đột pháp lý cụ thể về quyền ủy quyền ký đơn và tư cách khởi kiện của đại diện dòng họ. Các số liệu thực chứng năm 2023 cùng hệ thống kiến nghị sửa đổi pháp luật được trình bày trong công trình có giá trị khoa học và ứng dụng thiết thực cho công tác hoàn thiện thể chế tư pháp dân sự tại Việt Nam.