CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA CỦA CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI 1. Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án tranh chấp đất đai Để đưa ra được khái niệm “chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án tranh chấp đất đai” cần giải thích được các khái niệm: VADS, vụ án tranh chấp đất đai, sơ thẩm vụ án tranh chấp đất đai, chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án tranh chấp đất đai. Khái niệm “VADS” “Xã hội ngày càng phát triển, đời sống ngày càng được nâng cao.
Để thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống, con người có thể tự mình lựa chọn việc giao kết và thiết lập các quan hệ dân sự. Đây là những nhu cầu khách quan gắn với sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội”6. Với xu thế vận động tất yếu đó, thuật ngữ “dân sự” dần được hình thành và được sử dụng rộng rãi trong khoa học pháp lý hiện đại. Nhà nghiên cứu Vũ Văn Mẫu đã chỉ ra rằng: “Dân Luật hay luật dân sự là những nguyên tắc cai quản sự giao thiệp giữa tư nhân”7 – ý chỉ các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ có tính chất “riêng tư” của các chủ thể.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, luật dân sự được coi là luật gốc, là xương sống của hệ thống luật tư, với bản chất là sự tự do, tự nguyện, bình đẳng thỏa thuận nhằm thiết lập các quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể. Tuy nhiên “trong quá trình con người trao đổi lợi ích với nhau, việc xảy ra những mâu thuẫn, tranh chấp là một yếu tố mang tính quy luật. Bởi con người vốn không hoàn hảo và loài người vốn bất toàn”8. Hay điều này có thể lý giải “dưới góc nhìn của giáo lí nhà Phật, con người có bản ngã và bị trói buộc bởi tham, sân, si”9.
Do đó, cần nhận thức rằng với bản chất là một hiện tượng xã hội khách quan nên không thể phủ nhận hay né tránh những vi phạm, tranh chấp dân sự mà cần tìm ra những giải pháp, phương pháp, phương hướng giải quyết tranh chấp theo chiều hướng tích cực nhất. Nguyễn Văn Hợi, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2017, tr. 7 Vũ Văn Mẫu (1961), Dân Luật khái luận, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, tr. 8 Nguyễn Thị Hương (2019), Khởi kiện và thụ lý vụ án tranh chấp đất đai - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.
9 Ngọc Liên, Thuần Tâm, Triết lý Phật Thích Ca, Nxb. Tri thức, 1972, tr. 9 “Từ xưa đến nay, dù ở Đông phương hay Tây phương, trật tự xã hội được duy trì là nhờ vào luân lí và luật pháp”10. Theo nhà nghiên cứu Vũ Văn Mẫu thì “khi gặp một đối kháng trong sự hành sử quyền lợi, không ai có quyền xử xét cho mình.
Trật tự trong xã hội sẽ sụp đổ nếu mạnh ai nấy tranh, như trong thời kỳ thái cổ. Ngày nay tất cả các sự tranh tụng đều phải nhờ Tòa án phân xử”11. Có thể thấy trong bất kỳ lĩnh vực nào của đời sống xã hội hiện đại nói chung hay “lĩnh vực dân sự nói riêng, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các chủ thể có quyền thực hiện những phương thức khác nhau như tự bảo vệ, yêu cầu Tòa án hoặc các cơ quan Nhà nước khác bảo vệ. Trong các phương thức bảo vệ quyền và lợi ích dân sự của các chủ thể thì phương thức Tòa án bảo vệ là công cụ hữu hiệu nhất trong toàn bộ các phương thức khác nhau mà xã hội và Nhà nước dùng để giải quyết các tranh chấp và mâu thuẫn lợi ích” 12.
Từ đây, có thể hiểu đơn giản những tranh chấp, mâu thuẫn về lợi ích giữa các chủ thể trong quan hệ dân sự khi được Tòa án xem xét, giải quyết theo trình tự, thủ tục nhất định được gọi là “vụ án dân sự”. Xét dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Đại Từ điển Tiếng Việt, vụ án là “vụ việc phải đưa ra xét xử ở Tòa”; dân sự là “việc liên quan đến dân nói chung. Những việc liên quan đến dân gồm những quan hệ nhân thân, tài sản, những vấn đề về hôn nhân và gia đình, kinh tế và lao động”13. Theo cách lý giải trên có thể hiểu “vụ án dân sự” là những vụ việc phát sinh từ những quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động được xét xử tại Tòa án.
Xét dưới góc độ pháp lý, hiện nay khái niệm VADS còn có nhiều luồng ý kiến trái chiều như sau: Quan điểm thứ nhất của nhà nghiên cứu Liễu Thị Hạnh cho rằng: “VADS là tranh chấp giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động đưa ra Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật TTDS”14. Quan điểm thứ hai của nhà nghiên cứu Mè Thị Hà lại cho rằng: “VADS bao gồm các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự, HNGĐ, kinh doanh, thương mại, lao động giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức và được khởi kiện đến Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự”15. Lê Minh Tâm (Chủ biên), Pháp luật Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển bền vững, Nxb. 11 Vũ Văn Mẫu (1974), Pháp Luật Thông Khảo Phần thứ hai: Dân Luật Khái Luận, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Sài Gòn, tr.
Nguyễn Thị Thu Hà (2022), Cung cấp, Thu thập chứng cứ của đương sự trong TTDS Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia sự thật, tr. 13 Nguyễn Như Ý (Chủ biên), Đại Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Văn hóa thông tin, 1998, tr.
14 Liễu Thị Hạnh (2009), Thụ lý vụ án tranh chấp đất đai - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 15 Mè Thị Hà (2018), Khởi kiện, thụ lý vụ án tranh chấp đất đai và thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 10 Có thể thấy, cả hai quan điểm đều chưa lột tả được bản chất của tranh chấp là gì. Ở đây cần hiểu nội hàm của sự tranh chấp là về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể.
Vì vậy, có thể hiểu “vụ án dân sự” là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự, HNGĐ, kinh doanh thương mại, lao động giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện đến Tòa án và được thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Khái niệm vụ án tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền dân sự Tòa án Tranh chấp đất đai là một trong số tranh chấp chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số các tranh chấp dân sự tại Tòa án, với giá trị tranh chấp lớn, mức độ gay gắt và tính chất ngày một phức tạp. Theo Từ điển Tiếng Việt thì tranh chấp là “giành giật, giành co nhau cái không rõ thuộc về bên nào”16. Theo Từ điển giải thích từ ngữ Luật học “Tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai”17.
Theo giáo trình Luật Đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội: “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai”18. Có thể thấy, các quan niệm nêu trên về tranh chấp đất đai đều hiểu tranh chấp đất đai theo nghĩa rộng, đó những biểu hiện sự giành giật, giằng co nhau về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai. Theo Điều 53 Hiến pháp 2013 đã quy định: “Đất đai, tài nguyên nước.là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Điều 54 Hiến pháp 2013 quy định: “Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất.
Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật. Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ”19. Trên cơ sở đó, khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai 2013, đưa ra định nghĩa: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Lê Hồng Hạnh: “Luật Đất đai năm 2013 đưa ra khái niệm về tranh chấp đất đai song không khái quát được các tiêu chí xác định và cũng không liệt kê được các loại tranh chấp đất đai.
Thông thường thì khái niệm khoa học hoặc giải nghĩa nội hàm thuật ngữ một cách khái 16 Hoàng Phê (Chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2010, tr. 17 Trường Đại học Luật Hà Nội, Từ điển giải thích từ ngữ Luật học, Nxb. CAND, Hà Nội, tr.
18 Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình Luật Đất đai, Nxb. CAND, Hà Nội, tr. 19 Xem: Điều 53, 54 Hiến pháp 2013. 11 quát cao nhất để dễ dàng nhận diện chính xác hoặc liệt kê các trường hợp mà khái niệm bao trùm, khái niệm Luật Đất đai trong Luật Đất đai năm 2013 đã không tạo ra một trong hai giá trị đó”20.
Việc phân loại tranh chấp được thể hiện trong các văn bản dưới luật. Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã phân loại tranh chấp đất đai thành: tranh chấp về việc ai có quyền sử dụng đất và tranh chấp liên quan đến giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất. Theo nhà nghiên cứu, Th. Lê Văn Quang, trưởng phòng 9 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước cho rằng chỉ có tranh chấp về việc xác định ai là người có QSDĐ hoặc tranh chấp đòi lại QSDĐ người khác đang quản lý, sử dụng là tranh chấp đất đai, còn tranh chấp là hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ thì hoàn toàn không phải tranh chấp đất đai21.