Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, đất đai là tài sản đặc biệt thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội và tốc độ đô thị hóa, các giao dịch và quan hệ pháp luật về đất đai ngày càng đa dạng, kéo theo số lượng tranh chấp đất đai gia tăng với tính chất phức tạp, giá trị tài sản tranh chấp lớn và liên quan đến nhiều chủ thể. Thực tiễn xét xử cho thấy tranh chấp đất đai luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các vụ việc dân sự mà Tòa án nhân dân (TAND) các cấp phải thụ lý, giải quyết hàng năm.

Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm (CBXXST) giữ vị trí trung tâm trong toàn bộ quy trình tố tụng dân sự, quyết định trực tiếp đến chất lượng xây dựng hồ sơ vụ án, thu thập chứng cứ và định hướng giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2015 vào thực tiễn xét xử sơ thẩm các vụ án tranh chấp đất đai vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn, từ sự thiếu đồng bộ giữa pháp luật tố tụng và pháp luật đất đai, khoảng trống pháp lý trong hoạt động thu thập chứng cứ, cho đến khó khăn trong phối hợp liên ngành tại địa phương.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thái Sơn (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2025, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Thu Hà) tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu sau:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về CBXXST vụ án tranh chấp đất đai; phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành; khảo sát thực tiễn áp dụng tại các TAND trên địa bàn tỉnh Hải Dương; từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu các quan điểm, học thuyết pháp lý liên quan đến CBXXST vụ án dân sự nói chung và vụ án tranh chấp đất đai nói riêng nhằm xác lập hệ thống lý luận (khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở khoa học và các điều kiện bảo đảm).
    2. Phân tích thực trạng quy định của pháp luật TTDS Việt Nam về thời hạn và các hoạt động tố tụng trong giai đoạn CBXXST vụ án tranh chấp đất đai.
    3. Đánh giá những bất cập, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn thực hiện pháp luật tại các TAND trên địa bàn tỉnh Hải Dương từ ngày 01/07/2016 đến nay.
    4. Xác định các nguyên nhân chủ quan, khách quan của những hạn chế và đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả công tác xét xử tại TAND tỉnh Hải Dương.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống lý luận, học thuyết pháp lý về CBXXST; các quy phạm pháp luật thực định trong BLTTDS năm 2015 (có đối sánh với BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 và Luật Đất đai); các bản án, quyết định, hồ sơ vụ án tranh chấp đất đai được thụ lý, giải quyết tại TAND trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
    • Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu thực tiễn tại các TAND trên địa bàn tỉnh Hải Dương và số liệu tổng hợp ngành Tòa án từ ngày 01/07/2016 (thời điểm BLTTDS năm 2015 có hiệu lực) đến nay.
    • Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu CBXXST theo thủ tục sơ thẩm thông thường (không nghiên cứu thủ tục rút gọn) dưới góc độ là một chuỗi hoạt động tố tụng dân sự (thời hạn, thu thập chứng cứ, phiên họp kiểm tra giao nộp chứng cứ và hòa giải, nghiên cứu hồ sơ). Khóa luận không đi sâu vào các quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ, công nhận sự thỏa thuận hay áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vốn là đối tượng của các công trình chuyên biệt khác.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, đường lối cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực dân sự và đất đai.

Tác giả vận dụng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và án lệ, văn bản giải đáp nghiệp vụ làm khung đối chiếu, tiêu biểu gồm:

  • Hiến pháp năm 2013 (Điều 53, 54 về chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai).
  • Luật Đất đai năm 2013 (khoản 24 Điều 3 về định nghĩa tranh chấp đất đai).
  • Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (các Điều 70, 97, 98, 101, 104, 106, 155, 163, 200, 203, 208, 209, 210).
  • Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về phân loại tranh chấp đất đai.
  • Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15 về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng.
  • Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao về một số vấn đề nghiệp vụ.

Về mặt lý luận, khóa luận phân tích cơ sở khoa học xây dựng chế định CBXXST dựa trên bốn nguyên tắc cơ bản của TTDS: (1) Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự; (2) Nguyên tắc Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai; (3) Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh; (4) Nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử.

Các phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ các khía cạnh lý thuyết, phân tích cấu trúc quy phạm pháp luật TTDS và đúc kết những bất cập trong cơ chế thực thi.
  • Phương pháp logic: Đánh giá tính thống nhất, tính tương thích giữa các điều luật trong BLTTDS năm 2015 và giữa pháp luật tố tụng với pháp luật nội dung (Luật Đất đai).
  • Phương pháp minh họa án lệ/hồ sơ: Khai thác trực tiếp các hồ sơ vụ án thực tế tại TAND huyện Nam Sách, TAND huyện Tứ Kỳ (tỉnh Hải Dương) để chứng minh cho những xung đột, vướng mắc phát sinh ngoài thực tế.
  • Phương pháp thống kê: Xử lý số liệu từ các Báo cáo tổng kết công tác năm 2023, 2024 của Tòa án nhân dân tối cao và báo cáo thực tiễn xét xử tại địa bàn tỉnh Hải Dương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án tranh chấp đất đai

Chương 1 thiết lập khung lý luận toàn diện về CBXXST vụ án tranh chấp đất đai. Tác giả phân tích khái niệm vụ án dân sự và tranh chấp đất đai theo cả nghĩa rộng (bao gồm tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất, tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, tranh chấp giao dịch, thừa kế, chia tài sản chung là quyền sử dụng đất) và nghĩa hẹp (chỉ gồm tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất theo khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai 2013).

Dưới góc độ tiếp cận là một hoạt động TTDS, khóa luận đưa ra định nghĩa: CBXXST vụ án tranh chấp đất đai là chuỗi các hoạt động tố tụng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau được thực hiện sau khi Tòa án thụ lý vụ án, do các chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng thực hiện nhằm chuẩn bị cơ sở để Tòa án ban hành các quyết định tố tụng hoặc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm khách quan, công bằng và đúng pháp luật.

Chương này chỉ rõ các đặc điểm đặc thù của CBXXST trong vụ án tranh chấp đất đai:

  • Nghĩa vụ thông báo thụ lý vụ án cho cơ quan có thẩm quyền đăng ký đất đai nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, chuyển nhượng tài sản đang có tranh chấp.
  • Số lượng đương sự tham gia tố tụng thường đông và cư trú rải rác ở nhiều địa phương, làm tăng độ phức tạp của việc tống đạt văn bản tố tụng.
  • Sự tham gia bắt buộc của Ủy ban nhân dân các cấp với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án có yêu cầu xem xét hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ).
  • Các biện pháp thu thập chứng cứ mang tính chuyên biệt bắt buộc: xem xét, thẩm định tại chỗ; định giá tài sản; trích lục hồ sơ địa chính và lịch sử biến động đất đai từ cơ quan quản lý nhà nước.

Chương 2: Thực trạng pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án tranh chấp đất đai

Chương 2 tập trung mổ xẻ các quy định thực định của BLTTDS năm 2015, chỉ ra những khoảng trống và điểm bất cập trong từng khâu hoạt động:

  • Thời hạn CBXXST (Điều 203): Thời hạn luật định là 04 tháng kể từ ngày thụ lý (có thể gia hạn không quá 02 tháng đối với vụ án phức tạp). Tuy nhiên, trên thực tế, thời hạn này thường xuyên bị kéo dài do phụ thuộc vào kết quả của các cơ quan chuyên môn bên ngoài Tòa án.
  • Lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án (Điều 98): Quy định bắt buộc biên bản phải có người làm chứng hoặc xác nhận của UBND/Công an cấp xã tạo ra rào cản hành chính không cần thiết, làm giảm tính chủ động của Thẩm phán khi cán bộ địa phương bận việc hoặc người dân ngại va chạm.
  • Xem xét, thẩm định tại chỗ (Điều 101, Điều 155): Chưa có barem hay nguyên tắc cụ thể để tính toán số tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định; thiếu quy định rõ ràng về căn cứ, thủ tục xem xét thẩm định tại chỗ lại; chưa có chế tài xử lý hiệu quả đối với hành vi chống đối, không hợp tác của chủ đất liền kề (dẫn chứng vụ án số 24/2022/TLST-DS tại TAND huyện Nam Sách, việc đo vẽ bị đình trệ do hàng xóm không cho chỉ mốc giới).
  • Định giá tài sản tranh chấp (Điều 104, Điều 163): Thành phần Hội đồng định giá quy định chung chung là "cơ quan chuyên môn có liên quan", dẫn đến sự tùy nghi giữa các địa phương; thiếu căn cứ xác định kết quả định giá lần đầu là không chính xác để tiến hành định giá lại; đặc biệt chưa có chế tài đối với việc Hội đồng định giá chậm trả kết quả (dẫn chứng vụ án số 25/2022/TB-TLVA tại TAND huyện Tứ Kỳ, Hội đồng định giá chậm gửi kết quả hơn 3 tháng khiến Tòa án phải liên tục ban hành công văn đôn đốc và tạm đình chỉ vụ án).
  • Yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ (Điều 106): Tình trạng UBND cấp xã, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai chậm cung cấp hồ sơ cấp đất, hợp đồng chuyển nhượng gốc (dẫn chứng vụ án số 21/2023/TLST-DS tại TAND huyện Nam Sách, mất nhiều tháng mới thu thập được hồ sơ từ UBND xã An Sơn và Văn phòng Đăng ký đất đai). Các chế tài hành chính theo Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15 ít khi được Thẩm phán áp dụng do tâm lý nể nang, tránh gây căng thẳng với cơ quan phối hợp.
  • Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tồn tại 3 luồng quan điểm khác nhau về thời điểm bị đơn được đưa ra yêu cầu phản tố (trước khi mở phiên họp, tại phiên họp, hoặc sau phiên họp); thiếu quy định về số lần hoãn phiên họp khi đương sự vắng mặt; thiếu nghĩa vụ Tòa án phải thông báo và công bố các chứng cứ do chính Tòa án tự thu thập trước phiên họp, làm hạn chế quyền tranh tụng của đương sự.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án tranh chấp đất đai tại các Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Hải Dương và kiến nghị

Dựa trên việc nghiên cứu thực tiễn tại Hải Dương, chương này chỉ ra rằng các TAND trên địa bàn tỉnh đã giải quyết một lượng lớn tranh chấp đất đai, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của công dân, tuy nhiên tỷ lệ án bị kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử vẫn còn đáng kể.

Tác giả phân tích các nguyên nhân chính:

  1. Nguyên nhân lập pháp: Quy định BLTTDS năm 2015 còn nhiều điểm nghẽn, thiếu hướng dẫn chi tiết về quy trình thẩm định lại, định giá lại và cơ chế công khai chứng cứ do Tòa án thu thập.
  2. Nguyên nhân quản lý nhà nước: Hồ sơ địa chính qua nhiều thời kỳ tại địa phương thiếu đồng bộ, dữ liệu đất đai chưa được số hóa toàn diện, việc xác định ranh giới và nguồn gốc đất lịch sử gặp nhiều khó khăn.
  3. Nguyên nhân phối hợp: Sự chậm trễ, thiếu tích cực của cơ quan chuyên môn và chính quyền cơ sở khi thực hiện ủy thác thu thập chứng cứ, định giá.
  4. Nguyên nhân từ phía chủ thể tiến hành tố tụng: Áp lực số lượng án lớn, một số Thẩm phán còn lúng túng trong kỹ năng xem xét thẩm định tại chỗ hoặc nể nang trong việc áp dụng chế tài tố tụng.

Từ đó, khóa luận đề xuất hai nhóm giải pháp:

  • Nhóm 1 - Hoàn thiện quy định pháp luật TTDS: Bãi bỏ yêu cầu xác nhận của chính quyền địa phương khi Thẩm phán lấy lời khai ngoài trụ sở; chuẩn hóa khung chi phí tạm ứng thẩm định/định giá; quy định rõ thời hạn và chế tài bắt buộc Hội đồng định giá phải trả kết quả; quy định thống nhất thời điểm đưa ra yêu cầu phản tố; bổ sung thủ tục bắt buộc Tòa án phải gửi thông báo về chứng cứ tự thu thập cho đương sự trước phiên họp công khai chứng cứ.
  • Nhóm 2 - Nâng cao hiệu quả thực thi tại TAND tỉnh Hải Dương: Thiết lập quy chế phối hợp liên ngành có chế tài cụ thể giữa TAND tỉnh với UBND và Sở Tài nguyên & Môi trường; tăng cường đào tạo kỹ năng thẩm định, định giá chuyên sâu cho Thẩm phán; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong lưu trữ, cung cấp chứng cứ điện tử giữa Tòa án và cơ quan đăng ký đất đai.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các số liệu công tác xét xử từ các báo cáo chính thức của TANDTC và hồ sơ thực tế tại địa phương, phản ánh bức tranh toàn cảnh về hoạt động xét xử sơ thẩm dân sự và tranh chấp đất đai:

Chỉ số thống kê Năm 2023 (Toàn quốc) Năm 2024 (Toàn quốc) Ghi nhận thực tế tại Hải Dương
Tổng số vụ việc thụ lý 468.828 vụ việc 653.082 vụ việc (tăng 7,73%) Gia tăng liên tục, chủ yếu là tranh chấp QSDĐ và hợp đồng liên quan
Số vụ việc đã giải quyết/xét xử 408.070 vụ việc (đạt 87,04%) Hơn 585.000 vụ việc Tỷ lệ giải quyết đạt chỉ tiêu chung
Số vụ việc thụ lý sơ thẩm 447.472 vụ việc Chiếm tỷ trọng đa số Chiếm phần lớn lượng án dân sự thụ lý
Tỷ lệ án hủy, sửa do lỗi chủ quan 0,52% (tổng hủy sửa 1,41%) 0,77% (thấp hơn 0,12% so với 2023) Đạt chỉ tiêu Quốc hội giao (dưới 1,5%)
Tình trạng chậm trễ CBXXST Xuất hiện ở nhiều Tòa án Vẫn là vướng mắc trọng điểm Ghi nhận nhiều vụ án phải tạm đình chỉ do chậm định giá, đo vẽ (Nam Sách, Tứ Kỳ)

Đóng góp mới của khóa luận so với các công trình trước đây bao gồm:

  1. Hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận chuyên biệt về CBXXST đối với loại án tranh chấp đất đai, tách bạch rõ ràng giữa tranh chấp đất đai theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng.
  2. Chỉ ra các điểm nghẽn kỹ thuật lập pháp cụ thể trong BLTTDS năm 2015 (như Điều 98, 101, 104, 106, 200, 210) mà các giáo trình chung chưa phân tích sâu.
  3. Cung cấp chứng cứ thực nghiệm từ hồ sơ án thật tại địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2016–2025, làm sáng tỏ nguyên nhân các vụ án đất đai bị kéo dài thời gian CBXXST.
  4. Xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa sửa đổi luật thực định và giải pháp tổ chức thi hành án tại cấp tỉnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Nghiên cứu chỉ tập trung vào thủ tục sơ thẩm thông thường, không đi sâu vào thủ tục rút gọn; dữ liệu hồ sơ thực tế chủ yếu thu thập trên phạm vi địa bàn tỉnh Hải Dương từ ngày 01/07/2016 đến nay; các quyết định tố tụng như công nhận sự thỏa thuận, đình chỉ, tạm đình chỉ hay áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chưa được phân tích toàn diện do giới hạn phạm vi đề tài.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng đánh giá tác động của Luật Đất đai năm 2024 đối với quy trình CBXXST các vụ án đất đai; nghiên cứu đối so sánh thủ tục CBXXST tranh chấp đất đai tại nhiều địa phương thuộc các vùng kinh tế - xã hội khác nhau; nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế giải quyết tranh chấp đất đai qua thủ tục rút gọn và hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích phục vụ học tập, nghiên cứu và công tác chuyên môn:

  • Đối với sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Tố tụng Dân sự và Luật Đất đai: Cung cấp cơ sở lý luận mạch lạc và phương pháp tiếp cận nghiên cứu hồ sơ án thực tế.
  • Đối với Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Luật sư: Phần phân tích các kỹ năng thu thập chứng cứ, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và điều hành phiên họp kiểm tra công khai chứng cứ (Chương 2 và 3) là tài liệu tham khảo trực tiếp giúp phòng tránh các sai sót tố tụng có thể dẫn đến việc bản án bị hủy, sửa.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận tiếp cận khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án tranh chấp đất đai dưới góc độ nào là trọng tâm? Khóa luận lựa chọn tiếp cận CBXXST vụ án tranh chấp đất đai trọng tâm dưới góc độ là một hoạt động tố tụng dân sự. Đó là chuỗi các hoạt động có liên hệ chặt chẽ từ sau khi thụ lý đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhằm chuẩn bị các điều kiện cần thiết và căn cứ pháp lý để Tòa án giải quyết vụ án chính xác, khách quan.

2. Vì sao tác giả cho rằng quy định lấy lời khai đương sự ngoài trụ sở Tòa án tại Điều 98 BLTTDS năm 2015 là chưa hợp lý? Tác giả lập luận rằng Thẩm phán là chủ thể tư pháp đặc biệt, tự chịu trách nhiệm về hành vi tố tụng của mình; việc lấy lời khai dựa trên sự tự nguyện và ký xác nhận của đương sự. Việc luật bắt buộc phải có người làm chứng hoặc xác nhận của chính quyền cấp xã gây khó khăn lớn trên thực tế do cán bộ địa phương bận việc hoặc người dân ngại va chạm, làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án không cần thiết.

3. Hoạt động định giá tài sản trong tranh chấp đất đai tại Hải Dương gặp những trở ngại pháp lý và thực tiễn nào? Khóa luận chỉ ra ba trở ngại chính: (1) BLTTDS không có tiêu chí xác định mức tạm ứng chi phí định giá; (2) Thành phần Hội đồng định giá quy định chung chung, tùy nghi; (3) Luật không quy định thời hạn và chế tài đối với việc Hội đồng định giá chậm trả kết quả, dẫn đến việc Tòa án phải nhiều lần tạm đình chỉ vụ án để chờ kết quả (như vụ việc tại TAND huyện Tứ Kỳ).

4. Khóa luận phân tích những cách hiểu nào về thời điểm bị đơn được đưa ra yêu cầu phản tố theo BLTTDS năm 2015? Khóa luận phân tích ba luồng quan điểm: (1) Bị đơn được đưa ra yêu cầu phản tố tại phiên họp kiểm tra công khai chứng cứ và hòa giải (căn cứ Điều 210); (2) Bị đơn chỉ có quyền đưa ra trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra công khai chứng cứ và hòa giải (căn cứ khoản 3 Điều 200); (3) Việc đưa ra yêu cầu phản tố là quyền tự do định đoạt nên bị đơn có thể thực hiện trước, trong hoặc sau phiên họp.

5. Điểm hạn chế chính của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ được khóa luận chỉ ra là gì? Khóa luận chỉ ra rằng BLTTDS năm 2015 chưa quy định nghĩa vụ của Tòa án phải thông báo và công bố các tài liệu, chứng cứ do chính Tòa án tự xác minh, thu thập cho đương sự trước khi mở phiên họp. Điều này khiến đương sự không có đủ thời gian nghiên cứu, sao chụp tài liệu, làm suy giảm hiệu quả tranh tụng tại phiên họp và tại phiên tòa.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thái Sơn đã hoàn thành việc nghiên cứu có hệ thống về giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án tranh chấp đất đai từ góc độ lý luận đến thực tiễn thi hành tại các TAND trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Tác giả đã làm rõ các điểm mâu thuẫn, thiếu sót trong quy định của BLTTDS năm 2015 liên quan đến thời hạn, thu thập chứng cứ, thẩm định, định giá tài sản và tổ chức phiên họp tiếp cận chứng cứ. Công trình đưa ra hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật thực định và giải pháp nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành có giá trị thực tiễn đối với công tác xét xử dân sự hiện nay.