Chương 1: NHUNG VAN DE LY LUẬN CƠ BAN VE TRANH TUNG TAI PHIEN TOA DAN SU SO THAM 1. Khái niệm, đặc điểm va ý nghĩa của tranh tụng trong tố tụng dân sự 1. Khái niệm về tranh tụng tô tụng dân sự Hệ thống pháp luật trên thế giới được phân chia thành hai hệ thống pháp luật chủ yếu bao gồm: Hệ thống pháp luật án lệ (common Law) và hệ thống pháp luật dân sự (Civil law). Các nước theo truyền thống án lệ (Common Law) áp dụng loại hình tố tụng tranh tụng.
Theo đó, pháp luật tố tụng dân sự (TTDS) luôn đề cao vai trò của các bên đương sự trong việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh, việc dẫn dắt nêu câu hỏi và tranh luận thuộc về các đương sự và luật sư giữa các bên, còn Tham phán chi là người thứ ba giữ vai trò trung gian, trọng tài và ra phán quyết. Ở các nước theo truyền thống pháp luật dân sự (Civil Law) thì áp dụng loại hình tố tụng xét hỏi. Vì vậy, pháp luật TTDS đề cao vai trò chủ động của thâm phán trong việc chứng minh sự việc dé ban hành phán quyết. Tham phan trong tố tụng xét hỏi không phải là người trong tài mà là người điều khiển phiên tòa, bảo đảm phiên tòa được tiễn hành theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định.
Ngay từ các thời đại xa xưa của lịch sử xã hội loài người khái niệm tranh tụng đã được biết đến. Theo các nhà nghiên cứu lịch sử pháp luật thì loai hình tố tụng đầu tiên xuất hiện trong lịch sử là tố tụng tranh tụng. Loại tố tụng này được áp dụng tại Hy Lạp cô đại, sau đó nó được đưa vào La Mã với tên gọi “Thu tục hỏi đáp liên tục”3. Trải qua các thời kỳ, tranh tụng tiếp tục kế thừa, phát triển, từng bước được khăng định và đến nay được áp dụng hầu hết ở các nước thuộc hệ thống pháp luật lục địa cũng như hệ thống luật an lệ.
› Nhà pháp luật Việt Pháp (2002), Một số nội dung về nguyên tắc to tụng xét hỏi và tranh tụng. Kinh nghiệm của Pháp trong việc tuyển chọn, bôi dưỡng, bồ nhiệm, quản lý Tham phản, Hà Nội, tr.2 Đến nay, pháp luật nhiều nước trên thế giới đã quy định tranh tụng là một nguyên tac cơ bản của tố tụng dân sự. Chang hạn như, Bộ luật tố tụng dân sự Nga đã quy định nguyên tắc tranh tụng tại Điều 12 của Bộ luật này “1.Việc xét xử được tiễn hành theo nguyen tắc tranh tụng và bình dang giữa các bên. Tòa án diéu khiển quá trình tranh tụng một cách độc lập, khách quan, vô tư, giải thích cho những người tham gia tô tụng về quyên và nghĩa vụ của họ, báo trước về hậu quả pháp ly do thực hiện hoặc không thực hiện hành vi tố tụng, giúp do những người tham gia tô tung trong việc thực hiện quyền của mình tạo mọi điều kiện để việc nghiên cứu chứng cứ được toàn diện và đây đủ, xác định sự thật của vụ án và áp dụng đúng đắn những quy định của pháp luật khi giải quyết những vụ án dân sự.” Ở Việt Nam sau khi có Nghị quyết 08 - NQ/TW ngày 2/1/2002 về Mộ: số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới của Bộ Chính trị thì vấn đề tranh tụng được các nhà lý luận và những người làm công tác thực tiễn đặc biệt quan tâm.
Nhưng đến nay, van dang còn tồn tại cách hiểu va nhận thức chưa thống nhất về tranh tụng. Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Hán Việt từ điển thì tranh tụng có nghĩa là “cái lẽ, cãi nhau để tranh lẽ phải”t. Còn theo Đại từ điển tiếng Việt thì tranh tụng có nghĩa là “kién tung’. Theo cách giải thích này, thì tranh tụng chính chính là quá trình giải quyết vụ án dân sự, theo đó các bên đương sự được tranh luận về các yêu cầu, các chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Khái niệm tranh tụng được ghi nhận trong Từ điển luật học năm 2006: “Tranh tụng là hoạt động t6 tung duoc thực hiện boi các bên tham gia to + Thiều Chiru (1993), Han - Việt từ điển, Nxb Thanh phố Hồ Chi Minh, TP Hồ Chi Minh, tr. 5 Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn Hóa - thông tin, Hà Nội, tr. tung, có quyên bình dang với nhau trong việc thu thập, dua ra chứng cứ dé bảo vệ các quan điểm và lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm và lợi ích của phía doi lập”. Khái niệm này, mặc du đã thé hiện được một sé nội dung cơ bản nhất của tranh tụng, tuy nhiên mới chỉ nhìn nhận tranh tụng là những hoạt động riêng lẻ của các chủ thé là các bên tham gia tô tụng, mặt khác khi xác định tranh tụng là hoạt động được thực hiện bởi các bên tham gia tranh tụng, thiếu đi một chủ thé quan trong là Tòa án.
Tranh tụng là một thuật ngữ pháp lý được tiếp cận theo nhiều góc độ khác nhau. Về lý luận, do khái niệm tranh tụng chưa được chính thức phát điển hóa trong luật nên còn tôn tại nhiều quan điểm về tranh tụng trong tố tụng dân sự: Quan điểm thứ nhất: “Tranh tung là từ khi tố quyên được hành xử cho đến khi có một phản quyết của Tòa án””. Quan điểm thứ hai cho rang: “Tranh tung chỉ là một giai đoạn tập trung trong phiên tòa xét xử, được thể hiện bằng việc đưa ra chứng cứ và tranh luận, doi đáp dựa trên các chứng cứ đó. Tòa án ra phán quyết giải quyết vụ án dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên toa”.
Quan điểm thứ ba cho răng: “Tranh tung là việc các bên đương sự đưa ra các chứng cứ, các căn cứ pháp ly, lập luận,tranh luận, doi dap với nhau 8 Nguyễn Huy Đầu (1962), Luật to tung dan su Viét Nam, Nxb Khai tri, Sai Gon, tr.807- 808 7 Nguyén Manh Bach (1996), Luat Tó tụng dân sự Việt Nam giải lược, Nxb Đồng Nai, tr.63 8 Viện Khoa học pháp lý — Bộ Tư pháp (2004), Một số van đề tranh tụng trong tố tung dan sự (2), Thông tin khoa học pháp ly, Hà Nội, tr.19 nham bao vệ quyên lợi của mình và Toa án chủ yêu dựa trên két quả tranh tụng giữa các bên dé ra phán quyết giải quyết vụ án, vụ việc dan sự””. Từ quá trình nghiên cứu các quan điểm trên, có thé nói nếu tranh tụng được hiểu như quan điểm thứ nhất thì chưa đầy đủ bởi quan điểm này mới chỉ coi tranh tụng là một quá trình bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện cho đến khi có bản án, quyết định của Tòa án mà chưa thể hiện được ban chat, ý nghĩa của tranh tụng. Nếu tranh tụng được hiểu theo quan điểm thứ hai thì tuy phần nao nói lên được bản chất của tranh tụng nhưng nội hàm của khái niệm này lại quá hẹp. Theo đó, tranh tụng trong TTDS chỉ diễn ra ở phiên tòa, tranh tụng trong TTDS đồng nghĩa với tranh tung tại phiên tòa và chỉ giới hạn trong phan tranh luận của các bên tham gia tố tụng tại phiên tòa là chưa day đủ.
Về ngữ nghĩa, thuật ngữ tranh tụng trong TTDS và tranh tụng tại phiên tòa là khác nhau. Thực chất tranh tụng tại phiên tòa chỉ là sự biểu hiện tập trung cao nhất của tranh tụng TTDS. Theo quan điểm thứ ba, mặc dù khái niệm đã phản ánh được bản chất của tranh tụng nhưng lại không khái quát được giới hạn của quá trình tranh tụng, cụ thể là hoạt động tranh tụng sẽ được bắt đầu và kết thúc ở thời điêm nào trong quá trình giải quyêt vụ án dân sự. Tôi cho rằng, khái niệm tranh tụng dù được nhìn nhận dưới góc độ nào thì cũng là phương thức tố tụng để đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án đồng thời để Tòa án tìm ra được sự thật khách quan của vụ án.
Nói cách khác, tranh tụng là quá trình hoạt động của các chủ thé tố tụng được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện và kết thúc khi Tòa án ban hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Trong hoạt động tranh tụng, các chủ thê tranh tụng dưới sự điều khiến của Tòa án được đưa ra chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo trình tự, thủ tục do pháp luật t6 tung dân sự quy định và ° Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2004), Sdd, tr.19 Tòa án đưa ra phán quyết vụ án dân sự căn cứ vào kết quả tranh tụng của các chủ thê tranh tụng. Vì vây, tranh tụng được coi là một phương thức t6 tụng dé Tòa án xác định sự thật khách quan của vụ án dân sự và đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Qua những phân tích trên, khái niệm tranh tụng trong tố tụng dân sự cần được hiểu thống nhất như sau: “7ranh tung trong TTDS là quá trình làm rõ sự thật khách quan cho vụ án được bắt đâu từ khi có yêu cẩu khởi kiện và kết thúc khi bản dn hoặc quyết định của Toa an có hiệu lực pháp luật.
Theo đó, các chủ thể tranh tụng dưới sự diéu khiển của Tòa án được dua ra chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp by, lập luận để bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của mình trước Toa an theo những trình tự, thu tục do pháp luật to tụng dan sự quy định ”. Đặc điểm tranh tung trong tổ tụng dân sự Tư nhất, tranh tụng bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện cho đến khi có bản án quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Nghệ thuật tranh tụng chính là nghệ thuật sử dụng chứng cứ. Về bản chất, tranh tụng trong TTDS là việc các bên đương sự cung cấp các chứng cứ, đưa ra các căn cứ pháp lý, tham gia lập luận, đối đáp, tranh luận với nhau dé bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án.
Tuy nhiên, trong thực tiễn, tranh tụng đôi khi được hiểu đồng nghĩa với tranh luận tại phiên tòa. Nếu chi thu hẹp việc tranh tụng trong phan tranh luận tại phiên tòa thì không đạt được mục đích của tranh tụng đặt ra. Dé các bên có thé lập luận, bảo vệ được quyên và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án thì các bên đương sự phải đưa ra lập luận và chứng cứ, tài liệu trước phiên tòa. Do đó, tranh tụng trong tô tung dân sự không đồng nghĩa với tranh luận tại phiên tòa.