Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ trong giải quyết vụ án dân sự" do sinh viên Nguyễn Trần Như Quỳnh (MSSV: 461459) thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Th.S Đặng Quang Huy tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2025), thuộc chuyên ngành Luật Tố tụng dân sự.
Về bối cảnh thực tiễn và lý do chọn đề tài, tác giả xuất phát từ nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước theo Hiến pháp năm 2013: quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong hệ thống tư pháp, Tòa án nhân dân giữ vai trò là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp nhằm bảo vệ công lý, quyền con người và trật tự pháp luật. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015, thẩm quyền của Tòa án được phân định theo ba tiêu chí: thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền theo cấp xét xử và thẩm quyền theo lãnh thổ. Trong đó, thẩm quyền theo lãnh thổ giữ vai trò phân định trách nhiệm xét xử giữa các Tòa án cùng cấp, vừa bảo đảm sự thuận lợi cho Tòa án trong việc thu thập chứng cứ, xét xử và thi hành án, vừa bảo vệ quyền tự định đoạt và quyền tiếp cận công lý của đương sự. Mặc dù BLTTDS năm 2015 đã có nhiều sửa đổi tiến bộ so với BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), thực tiễn áp dụng các tiêu chí xác định thẩm quyền theo lãnh thổ vẫn phát sinh nhiều bất cập, vướng mắc, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ trong giải quyết vụ án dân sự, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng và hoàn thiện pháp luật. Đề tài xác định 03 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tìm hiểu các quan điểm, học thuyết của các nhà nghiên cứu liên quan đến thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án trong giải quyết vụ án dân sự.
- Phân tích, cập nhật các khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định pháp luật về thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án; hệ thống, phân tích, đánh giá, so sánh các quy định về thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án để có cái nhìn toàn diện, chuyên sâu về thực trạng áp dụng pháp luật.
- Nghiên cứu, sưu tầm những vụ án thực tế còn tồn tại bất cập nhằm đưa ra những kiến nghị hoàn thiện, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận, học thuyết pháp lý cơ bản về thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án; các quy định của BLTTDS năm 2015 đối chiếu với BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011); thực tiễn thực hiện pháp luật tố tụng dân sự qua các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp dân sự trong vài năm gần đây.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án theo lãnh thổ đối với việc giải quyết các vụ án dân sự (tranh chấp dân sự); không nghiên cứu khía cạnh "quyền hạn" (quyền ban hành bản án, quyết định) và không nghiên cứu thẩm quyền giải quyết việc dân sự. Về không gian và thời gian, đề tài khảo sát hoạt động áp dụng pháp luật trên phạm vi toàn quốc từ khi BLTTDS năm 2015 có hiệu lực thi hành cho đến nay (năm 2025).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống nền tảng lý thuyết và cơ sở pháp lý thông qua các nguồn tài liệu chuyên ngành:
- Nguồn gốc thuật ngữ và khái niệm: Thuật ngữ "thẩm quyền" được giải nghĩa từ gốc Hán - Việt ("thẩm" là xem xét, đánh giá, tra cứu kỹ lưỡng; "quyền" là quyền lực, quyền hạn được trao) và nguồn gốc luật học La Mã cổ đại thông qua các thuật ngữ tiếng Latinh như Iurisdictio (quyền xét xử, tài phán), Potestas (quyền lực nhà nước được trao) và Competentia (thẩm quyền, năng lực pháp lý). Khái niệm "lãnh thổ" bắt nguồn từ thuật ngữ tiếng Latinh Terra (đất đai, không gian chủ quyền).
- Các công trình khoa học tiền đề: Khóa luận kế thừa và đối chiếu quan điểm lý luận từ luận án tiến sĩ của Lê Thị Hà (2005), Nguyễn Hồng Nam (2020); các luận văn thạc sĩ của Lê Hoài Nam (1997), Nguyễn Hoàng Bảo Tuấn (2018), Nguyễn Thị Hồng (2018), Lê Thị Minh (2019), Đinh Đức Công (2021), Nguyễn Quang Huy (2022); bài viết nghiên cứu của TS. Trần Anh Tuấn (2013); cùng các công trình bình luận khoa học BLTTDS năm 2015 của TS. Bùi Thị Huyền (2016) và PGS. TS. Trần Anh Tuấn (2017).
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và văn bản giải đáp nghiệp vụ: Hiến pháp năm 2013; BLTTDS năm 2015 (đặc biệt là Điều 5, Điều 8, Điều 26, 28, 30, 32, Điều 39, 40, Điều 189); BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011); Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 (Điều 84, Điều 107); Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014; Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP; Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP; Giải đáp số 01/2017/TANDTC; Công văn số 212/TANDTC ngày 13/09/2019 và Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023 của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC). Ngoài ra, tác giả đối chiếu quy định của BLTTDS Cộng hòa Pháp (Điều 44), BLTTDS Liên bang Nga (Điều 40), BLTTDS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (các điều 22, 24, 25, 26, 34, 35) và BLTTDS Campuchia (các điều 8, 9, 12, 13).
Về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Vận dụng các nguyên lý phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp.
- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp lịch sử (theo dõi sự hình thành và biến chuyển của chế định thẩm quyền qua các giai đoạn lập pháp); phương pháp phân tích và bình luận (mổ xẻ câu chữ quy phạm pháp luật và nội dung phán quyết trong các bản án thực tế); phương pháp so sánh (đối chiếu BLTTDS năm 2015 với BLTTDS năm 2004, so sánh giữa quy định pháp luật với thực tế áp dụng, so sánh luật tố tụng Việt Nam với pháp luật một số quốc gia); phương pháp diễn dịch, quy nạp và tổng hợp (khái quát hóa các luận điểm khoa học và nhóm vấn đề thực tiễn).
- Nguồn dữ liệu thực tế: Số liệu thống kê công tác xét xử của hệ thống Tòa án nhân dân (năm 2022) do lãnh đạo TANDTC công bố, kết hợp cùng tuyển tập các bản án sơ thẩm công khai trên Cổng thông tin công bố bản án của TANDTC từ năm 2023 đến đầu năm 2025.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ trong giải quyết vụ án dân sự
Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận hoàn chỉnh về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ trong giải quyết vụ án dân sự qua các nội dung:
- Khái niệm: Trên cơ sở phân tích khái niệm thẩm quyền, lãnh thổ và tranh chấp dân sự, tác giả tổng hợp định nghĩa: Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ trong giải quyết vụ án dân sự là quyền của Tòa án trong việc xem xét, giải quyết vụ án dân sự và quyền hạn ra bản án, quyết định khi xem xét, giải quyết các vụ án dân sự đó được xác định theo phạm vi lãnh thổ trên cơ sở nơi cư trú, nơi có trụ sở của một trong các bên đương sự, nơi có tài sản tranh chấp... hoặc nơi phát sinh sự kiện hoặc các dấu hiệu khác theo quy định của pháp luật.
- Bốn đặc điểm pháp lý:
- Thẩm quyền theo lãnh thổ được xác định ở cấp sơ thẩm (lần đầu xem xét nội dung vụ án); cấp phúc thẩm xác định theo Tòa án đã xử sơ thẩm căn cứ Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 chứ không xác định lại từ đầu.
- Thẩm quyền mang tính cụ thể, nhằm chỉ đích danh một Tòa án nhất định có trách nhiệm thụ lý, giải quyết vụ án.
- Là hệ quả tất yếu sau khi đã xác định thẩm quyền theo loại việc và thẩm quyền theo cấp xét xử.
- Là tiêu chí phân định thẩm quyền giữa các Tòa án cùng cấp, tránh tình trạng chồng chéo hoặc đùn đẩy trách nhiệm.
- Ý nghĩa: Đảm bảo tính hiệu quả và khả thi trong hoạt động thu thập chứng cứ, xác minh nguồn gốc tài sản và thi hành phán quyết; bảo vệ quyền tự định đoạt và quyền tiếp cận công lý của đương sự; bảo đảm tính thống nhất, minh bạch của hệ thống tư pháp, hạn chế việc trả đơn hoặc chuyển hồ sơ qua lại giữa các Tòa án.
- Bốn cơ sở khoa học xây dựng quy định:
- Xuất phát từ yêu cầu bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự (Điều 5 BLTTDS năm 2015).
- Xuất phát từ yêu cầu bảo đảm sự thuận lợi khi giải quyết vụ án và công tác thi hành án dân sự (Điều 35 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- Xuất phát từ yêu cầu giải quyết tranh chấp đúng đắn, khách quan, công bằng và bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật (Điều 8 BLTTDS năm 2015).
- Xuất phát từ yêu cầu thẩm quyền theo lãnh thổ phải phù hợp với tính chất của từng loại quan hệ pháp luật có tranh chấp.
- Ba yếu tố bảo đảm thực thi: Tính cụ thể và hợp lý của hệ thống quy phạm pháp luật; năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và sự độc lập của cán bộ Tòa án; ý thức tuân thủ pháp luật và mức độ hiểu biết tố tụng của đương sự.
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ trong giải quyết vụ án dân sự
Chương 2 phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật của BLTTDS năm 2015 điều chỉnh thẩm quyền theo lãnh thổ, chia thành các nhóm quan hệ cụ thể và so sánh với luật quốc tế:
- Trường hợp đối tượng tranh chấp là bất động sản (BĐS):
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015, Tòa án nơi có BĐS có thẩm quyền giải quyết duy nhất. Tác giả phân tích điểm tiến bộ khi điều luật thay đổi cụm từ "tranh chấp về BĐS" (BLTTDS năm 2004) thành "đối tượng tranh chấp là BĐS", giúp khu biệt rõ chỉ những vụ án có đối tượng tranh chấp trực tiếp là BĐS mới thuộc thẩm quyền độc quyền của Tòa án nơi có tài sản. Điều kiện xác định gồm 02 yếu tố tích lũy: đối tượng mà tranh chấp hướng đến phải tác động đến BĐS và BĐS phải là đối tượng chính. Tác giả phân loại và minh chứng qua các vụ án thực tế:
- Tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất: Là tranh chấp có đối tượng chính là BĐS (Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 39; dẫn chứng Bản án số 01/2024/DS-ST ngày 24/12/2024 của TAND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên về việc đòi lại 97,4 m² đất và tháo dỡ công trình).
- Tranh chấp hôn nhân và gia đình liên quan đến BĐS: Ly hôn chia tài sản chung là BĐS có quan hệ tranh chấp chính là quan hệ nhân thân, việc chia tài sản chỉ là phát sinh, do đó áp dụng điểm a khoản 1 Điều 39 xác định theo nơi cư trú của bị đơn căn cứ Giải đáp số 01/2017/TANDTC (dẫn chứng Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 15/9/2024 của TAND huyện B, tỉnh Hải Dương). Đối với tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn, dù quan hệ hôn nhân đã chấm dứt, thực tiễn vẫn áp dụng điểm a khoản 1 Điều 39 theo Công văn số 212/TANDTC ngày 13/09/2019 (dẫn chứng Bản án số 111/2024/HNGĐ-ST ngày 30/8/2024 của TAND huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).
- Tranh chấp hợp đồng liên quan đến BĐS: Tranh chấp hợp đồng thế chấp BĐS để đòi nợ gốc và lãi có đối tượng chính là nghĩa vụ trả tiền chứ không phải BĐS, do đó xác định theo nơi cư trú/trụ sở của bị đơn theo điểm a khoản 1 Điều 39 (dẫn chứng Bản án số 185/2023/DS-ST ngày 29/8/2023 của TAND quận Ba Đình, Hà Nội). Ngược lại, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có đối tượng trực tiếp là quyền sử dụng BĐS thì xác định theo nơi có BĐS (Bản án số 05/2024/DS-ST ngày 18/9/2024 của TAND huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận).
- Trường hợp đối tượng tranh chấp không phải là BĐS:
- Theo sự thỏa thuận của đương sự: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 39, các đương sự có quyền thỏa thuận bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn giải quyết.
- Theo sự lựa chọn của nguyên đơn: Căn cứ khoản 1 Điều 40 BLTTDS năm 2015, nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án khi không rõ nơi cư trú/làm việc/trụ sở của bị đơn (kết hợp điểm c, d khoản 4 Điều 189 BLTTDS năm 2015 và khoản 3 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP); tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh pháp nhân (Điều 84 BLDS năm 2015); tranh chấp hợp đồng được yêu cầu tại Tòa án nơi thực hiện hợp đồng theo điểm g khoản 1 Điều 40 (dẫn chứng Bản án kinh doanh thương mại số 02/2025/KDTM-ST ngày 17/01/2025 của TAND thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình giữa Ngân hàng TMCP Đ và Công ty TNHH SX-TM và DV Đ); tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; hoặc tranh chấp lao động lựa chọn Tòa án nơi người lao động cư trú.
- Theo nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015, đây là nguyên tắc pháp định cơ bản và được áp dụng phổ biến nhất khi các bên không có thỏa thuận hoặc nguyên đơn không có/không thực hiện quyền lựa chọn. Quy định này bảo đảm nguyên tắc bình đẳng vũ khí tố tụng, hỗ trợ bên bị kiện và tạo điều kiện khả thi cho thi hành án (dẫn chứng Bản án lao động số 01/2025/LĐ-ST ngày 07/01/2025 của TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An về việc vô hiệu hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị Thùy D và Công ty TNHH L1).
- So sánh pháp luật quốc tế: Pháp luật Việt Nam có điểm tương đồng với Pháp (Điều 44 BLTTDS Pháp) và Nga (Điều 40 BLTTDS Nga) khi quy định thẩm quyền độc quyền của Tòa án nơi có BĐS. Đối với thẩm quyền thỏa thuận và nơi cư trú của bị đơn, tác giả so sánh với Điều 22, 24, 25, 26, 35 BLTTDS Trung Quốc và Điều 8, 9, 12, 13 BLTTDS Campuchia, qua đó chỉ ra các kinh nghiệm lập pháp giá trị: Trung Quốc phân định rõ thứ tự ưu tiên giữa nơi thường trú và nơi cư trú thực tế của bị đơn; quy định nguyên tắc Tòa án thụ lý đầu tiên giải quyết khi nhiều Tòa án cùng có thẩm quyền; Campuchia có cơ chế TANDTC chỉ định Tòa án có thẩm quyền khi không thể xác định hoặc khu vực quản hạt không rõ ràng.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ trong giải quyết vụ án dân sự
Chương 3 tổng kết số liệu thi hành pháp luật trên phạm vi toàn quốc, phân tích các điểm nghẽn và đưa ra giải pháp:
- Thực tiễn áp dụng: Tác giả viện dẫn số liệu tổng kết công tác Tòa án năm 2022 cho thấy toàn hệ thống Tòa án đã thụ lý 444.372 vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động; tỷ lệ giải quyết, xét xử đạt 87,51%, vượt chỉ tiêu đề ra. Công tác xác định thẩm quyền sơ thẩm theo lãnh thổ cơ bản được bảo đảm chuẩn xác ngay từ khâu nhận đơn. TANDTC đã ban hành Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023 giải đáp các vướng mắc tố tụng trong công tác xét xử. Đồng thời, việc ứng dụng nộp đơn khởi kiện điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án đã hỗ trợ giảm bớt trở ngại về khoảng cách địa lý.
- Phân tích án thực tế áp dụng đúng:
- Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 21/01/2025 của TAND huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long (vụ án ly hôn và chia tài sản chung là BĐS giữa ông Lê Văn M và bà Lê Thị B): Tòa án xác định chính xác quan hệ nhân thân là chủ đạo, thụ lý theo nơi cư trú của bị đơn theo điểm a khoản 1 Điều 39.
- Bản án số 08/2025/DS-ST ngày 24/02/2025 của TAND huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu (tranh chấp đòi đất cho ở nhờ): Tòa án thụ lý chính xác theo nơi có BĐS theo điểm c khoản 1 Điều 39 do đối tượng chính tác động trực tiếp đến quyền sử dụng đất.
- Bất cập, vướng mắc phát hiện:
- Khó khăn trong việc xác định "nơi cư trú, nơi làm việc của bị đơn" theo điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015, đặc biệt khi bị đơn có cả nơi đăng ký thường trú và tạm trú khác nhau, hoặc thay đổi nơi làm việc liên tục.
- Thiếu văn bản quy phạm pháp luật định nghĩa tường minh thế nào là vụ án "có đối tượng tranh chấp là BĐS", dẫn đến tình trạng áp dụng không đồng bộ giữa các Tòa án đối với các vụ việc chia tài sản sau ly hôn hoặc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Thiếu quy định giải quyết xung đột thẩm quyền khi có nhiều Tòa án cùng có thẩm quyền theo lãnh thổ hoặc trường hợp bất khả kháng không thể xác định Tòa án thụ lý.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận làm rõ hệ thống quy chuẩn phân định thẩm quyền theo lãnh thổ tại BLTTDS năm 2015, tổng hợp các tiêu chí áp dụng và hệ thống các bản án thực tiễn:
| Nhóm quan hệ tranh chấp |
Căn cứ pháp lý (BLTTDS 2015) |
Tiêu chí xác định Tòa án có thẩm quyền theo lãnh thổ |
Dẫn chứng bản án thực tế trong khóa luận |
| Tranh chấp có đối tượng là bất động sản |
Điểm c khoản 1 Điều 39 |
Tòa án nơi có bất động sản (thẩm quyền độc quyền) |
Bản án số 01/2024/DS-ST (TAND huyện Tuần Giáo, Điện Biên); Bản án số 08/2025/DS-ST (TAND huyện Hòa Bình, Bạc Liêu) |
| Tranh chấp hôn nhân gia đình có chia BĐS |
Điểm a khoản 1 Điều 39; Giải đáp 01/2017/TANDTC |
Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc (ưu tiên quan hệ nhân thân) |
Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST (TAND huyện B, Hải Dương); Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST (TAND huyện Mang Thít, Vĩnh Long) |
| Chia tài sản chung sau ly hôn là BĐS |
Điểm a khoản 1 Điều 39; Công văn 212/TANDTC (2019) |
Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc |
Bản án số 111/2024/HNGĐ-ST (TAND huyện Định Quán, Đồng Nai) |
| Tranh chấp hợp đồng thế chấp BĐS đòi nợ |
Điểm a khoản 1 Điều 39 |
Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, đặt trụ sở (đối tượng là nghĩa vụ trả nợ) |
Bản án số 185/2023/DS-ST (TAND quận Ba Đình, Hà Nội) |
| Tranh chấp hợp đồng tín dụng (nguyên đơn chọn) |
Điểm g khoản 1 Điều 40 |
Tòa án nơi thực hiện hợp đồng theo sự lựa chọn của nguyên đơn |
Bản án số 02/2025/KDTM-ST (TAND TP Đồng Hới, Quảng Bình) |
| Tranh chấp lao động, dân sự thông thường |
Điểm a khoản 1 Điều 39 |
Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, đặt trụ sở |
Bản án số 01/2025/LĐ-ST (TAND huyện Đức Hòa, Long An) |
Đóng góp về mặt giải pháp của tác giả:
- Đề xuất bổ sung giải thích chính thức tiêu chí nhận diện "đối tượng tranh chấp là BĐS" nhằm phân biệt dứt khoát với tranh chấp quyền tài sản phát sinh từ giao dịch liên quan đến BĐS.
- Kiến nghị học hỏi kinh nghiệm lập pháp của BLTTDS Trung Quốc: Bổ sung nguyên tắc thứ tự ưu tiên giữa nơi thường trú và nơi tạm trú của bị đơn khi thụ lý; bổ sung quy định xác định Tòa án thụ lý đầu tiên khi vụ án phát sinh nhiều Tòa án cùng có thẩm quyền theo lãnh thổ.
- Kiến nghị học hỏi Điều 12 BLTTDS Campuchia: Bổ sung thẩm quyền cho TANDTC chỉ định Tòa án giải quyết vụ án trong trường hợp khu vực quản hạt Tòa án chưa rõ ràng hoặc gặp trở ngại thực tế khách quan.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận xác định rõ những giới hạn nghiên cứu:
- Hạn chế: Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án theo lãnh thổ đối với việc giải quyết các tranh chấp dân sự (vụ án dân sự), không đi sâu vào việc giải quyết việc dân sự (yêu cầu dân sự); không nghiên cứu khía cạnh quyền hạn tài phán (nội dung ra phán quyết hay đánh giá tính đúng sai của phán quyết). Nguồn bản án và số liệu thực tiễn tập trung chủ yếu từ năm 2022 đến đầu năm 2025 trên phạm vi Tòa án cấp quận/huyện.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng nghiên cứu sang thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài; nghiên cứu cơ chế xác định thẩm quyền theo lãnh thổ đối với các giao dịch dân sự, thương mại điện tử xuyên biên giới và quy trình xét xử trực tuyến trong bối cảnh chuyển đổi số của hệ thống Tòa án nhân dân.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự tham khảo về phương pháp phân tích quy phạm pháp luật tố tụng kết hợp khảo sát án thực tế.
- Người nghiên cứu các chuyên đề so sánh luật tố tụng dân sự giữa Việt Nam và các quốc gia thuộc hệ thống Civil Law (Pháp, Nga, Trung Quốc, Campuchia).
- Luật sư, thẩm phán, thư ký Tòa án và những người làm công tác thực tiễn pháp lý: Phần phân loại tiêu chí xác định thẩm quyền đối với các vụ án liên quan đến bất động sản tại Chương 2 (phân định giữa tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp hôn nhân có chia BĐS, và hợp đồng tín dụng/thế chấp BĐS) kèm hệ thống số hiệu bản án thực tế giai đoạn 2023 - 2025 là căn cứ tham khảo có giá trị áp dụng trực tiếp trong giai đoạn tiếp nhận và thụ lý đơn khởi kiện.
Câu hỏi thường gặp
Điểm khác biệt cơ bản giữa BLTTDS năm 2015 và BLTTDS năm 2004 về thẩm quyền giải quyết vụ án có liên quan đến bất động sản là gì?
BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) sử dụng cụm từ "tranh chấp về bất động sản" tại điểm c khoản 1 Điều 35, dẫn đến cách hiểu không đồng nhất giữa tranh chấp quyền đối với tài sản và tranh chấp quyền tài sản trong hợp đồng. BLTTDS năm 2015 đã sửa đổi thành "đối tượng tranh chấp là bất động sản" tại điểm c khoản 1 Điều 39. Điểm mới này thu hẹp và xác định rõ thẩm quyền độc quyền của Tòa án nơi có BĐS chỉ áp dụng khi đối tượng tranh chấp trực tiếp hướng đến và tác động đến BĐS (như tranh chấp quyền sử dụng đất, ranh giới đất, lối đi chung), không bao hàm các tranh chấp về nghĩa vụ thanh toán hoặc quyền xử lý tài sản thế chấp trong hợp đồng.
Tranh chấp ly hôn có yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất thì Tòa án nào có thẩm quyền theo lãnh thổ?
Căn cứ hướng dẫn tại Giải đáp số 01/2017/TANDTC, vụ án ly hôn có kèm theo yêu cầu chia tài sản chung là BĐS có quan hệ pháp luật chủ đạo là quan hệ nhân thân trong hôn nhân và gia đình; việc phân chia tài sản chỉ là hệ quả phát sinh. Do đó, vụ việc không thuộc trường hợp đối tượng tranh chấp là BĐS theo điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 mà thuộc thẩm quyền của Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 (như phán quyết tại Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST và Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST được dẫn chứng trong khóa luận).
Nguyên đơn được quyền tự lựa chọn Tòa án theo lãnh thổ trong những trường hợp điển hình nào?
Theo khoản 1 Điều 40 BLTTDS năm 2015, nguyên đơn được quyền đơn phương lựa chọn Tòa án có thẩm quyền khi: không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi có tài sản của bị đơn; tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh thì có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi có chi nhánh; tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện; tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì có thể yêu cầu Tòa án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại; tranh chấp lao động về tiền lương, trợ cấp thì người lao động có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc.
Trong tranh chấp đòi nợ quá hạn theo hợp đồng tín dụng mà tài sản bảo đảm là bất động sản, thẩm quyền theo lãnh thổ được xác định ra sao?
Trong tranh chấp hợp đồng tín dụng, đối tượng tranh chấp chính là nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi theo thỏa thuận hợp đồng, không phải quyền sở hữu hay quyền sử dụng BĐS thế chấp. Do đó, tranh chấp không thuộc điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015. Tòa án có thẩm quyền thụ lý là Tòa án nơi bị đơn cư trú, có trụ sở theo điểm a khoản 1 Điều 39 (như Bản án số 185/2023/DS-ST của TAND quận Ba Đình) hoặc Tòa án nơi thực hiện hợp đồng nếu nguyên đơn thực hiện quyền lựa chọn theo điểm g khoản 1 Điều 40 BLTTDS năm 2015 (như Bản án số 02/2025/KDTM-ST của TAND thành phố Đồng Hới).
Khóa luận đề xuất học hỏi quy định nào của pháp luật Trung Quốc và Campuchia về thẩm quyền theo lãnh thổ?
Tác giả kiến nghị pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam nghiên cứu tiếp thu:
- Quy định tại Điều 22 BLTTDS Trung Quốc: Xác định rõ thứ tự ưu tiên thụ lý vụ án thuộc về Tòa án nơi thường trú của bị đơn trong trường hợp nơi cư trú thực tế khác với nơi đăng ký thường trú.
- Quy định tại Điều 35 BLTTDS Trung Quốc: Áp dụng nguyên tắc Tòa án thụ lý đầu tiên có thẩm quyền giải quyết khi vụ án có nhiều Tòa án cùng có thẩm quyền theo lãnh thổ.
- Quy định tại Điều 12 BLTTDS Campuchia: Trao quyền cho Tòa án nhân dân tối cao chỉ định Tòa án có thẩm quyền xét xử khi địa giới quản hạt Tòa án chưa rõ ràng hoặc phát sinh trở ngại thực tế khách quan khiến Tòa án có thẩm quyền không thể thực thi quyền tài phán.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Trần Như Quỳnh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án theo lãnh thổ trong giải quyết vụ án dân sự, làm rõ bản chất phân định thẩm quyền giữa các Tòa án cùng cấp gắn liền với nguyên tắc tự định đoạt và quyền bình đẳng của đương sự. Thông qua việc phân tích kỹ lưỡng các điều khoản của BLTTDS năm 2015 kết hợp đối chiếu hệ thống bản án sơ thẩm thực tế giai đoạn 2023 - 2025 và pháp luật quốc tế, công trình đã chỉ rõ tiêu chí nhận diện tranh chấp có đối tượng là bất động sản cũng như các trường hợp nguyên đơn được quyền lựa chọn Tòa án thụ lý. Những tồn tại thực tiễn và nhóm kiến nghị bổ sung cơ chế ưu tiên thường trú, nguyên tắc Tòa án thụ lý đầu tiên và thẩm quyền chỉ định của Tòa án nhân dân tối cao là những đề xuất có giá trị khoa học và thực tiễn đối với quá trình tiếp tục hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.