CHƯƠNG I: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VE TAI THAM TRONG TO TUNG DAN SU VIET NAM 1. Khái niệm của tái tham Pháp luật luôn được coi là công cụ hữu hiệu nhất của nhà nước dé quản lý xã hội. Việc thực hiện pháp luật làm sao cho đúng không những là dé nang cao chat lượng quan ly xã hội mà hon thế nó còn giúp nâng cao uy tín, quyền uy của Nha nước. Tòa án là cơ quan xét xử của nhà nước, thực hiện một trong những quyền lực của Nhà nước là quyền Tư pháp.
Khi thực hiện việc xét xử, với tư cách là chủ thé áp dụng pháp luật Tòa án không được xét xử một cách tùy tiện mà phải dựa trên các quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức tố tụng. Konhi (Luật gia Liên Xô cũ) đã khang định: “Đối với hoạt động tư pháp, sẽ là một điều bat hạnh khi trong ban an và quyết định phụ thuộc vào sự tùy tiện ca nhán ” [45. Đề thực hiện tốt nhất chức năng tư pháp của Tòa án và loại bỏ sự tùy tiện của cá nhân thì tại BLTTDS 2004 và Luật tô chức Tòa án nhân dân năm 2002 đã quy định Tòa án thực hiện hai cấp xét xử để đảm bảo cho vụ án được xét xử đúng quy định pháp luật, đảm bảo quyên và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Thực hiện chế độ hai cấp xét xử là điều kiện dé Tòa án cấp trên trực tiếp khắc phục những sai sót có thé có của Tòa án cấp sơ thâm.
Mặc dù các quy định của pháp luật tố tụng nói chung và pháp luật tố tụng dân sự nói riêng đã tạo ra một cơ chế như trên để phòng ngừa và khắc phục những khuyết điểm có thể xảy ra trong quá trình xét xử các vụ án dân sự, nhưng cơ chế này cũng chưa bảo đảm chắc chắn mọi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp hoàn toàn đúng pháp luật như mong muốn của toàn xã hội. Những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án vẫn có thé có những sai lầm hoặc không có căn cứ pháp luật. Khi phát hiện những vi phạm pháp luật hoặc sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án, phát hiện các tình tiết mới của vụ án thì các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án sẽ được xem xét lại theo trình tự giám đốc thâm hoặc tái thẩm. Nhìn vào các quy định pháp luật của một số các quốc gia trên thế giới ta có thể nhận thây một sô vân đê như sau: BLTTDS và tố tụng hình sự của một số quốc gia không cho phép xem xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Các bản án sẽ chỉ được kháng án nếu nó chưa có hiệu lực pháp luật. Khi bản án đã có hiệu lực pháp luật thì không ai có quyền kháng án. “Khi bản án trở thành chính thức, không có một Tòa án nào được phép diéu chính cho di có sai sót”.267] Một số quốc gia đã từng quy định thủ tục xem xét lại bản án nhưng sau đó xóa bỏ quy định này sau một thời gian áp dụng như Tây Úc. Một số quốc gia phân biệt và quy định tách riêng thành hai thủ tục xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Pháp, Nga.
Một số quốc gia lại chỉ quy định về thủ tục giám đốc thâm như Đan Mạch, Trung Quốc. Ngược lại, một sỐ quốc gia lại chỉ quy định về thủ tục tái thâm như: Na Uy. Ở Việt Nam, BLTTDS năm 2004 phân biệt và quy định tách biệt hai thủ tục xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án là tái thẩm và giám đốc thâm. Về khái niệm tái thâm, trước hết tại Từ điển Tiếng Việt không có giải thích một cách chính xác thế nào là “tái thâm” mà chúng ta phải hiểu nó bằng cách ghép nghĩa của các từ: “tái” có nghĩa là “lại một lần nữa”, “thâm” có nghĩa là “xét kỹ” [76, tr.
Ghép lại chúng ta có thê hiểu nghĩa Hán Việt của từ “tái thâm” là “xét kỹ lại một lần nữa”. Như vậy, rất khó dé có thé cắt nghĩa và hiểu một cách chính xác về “tái thẩm” theo từ điển Tiếng Việt. Trong khoa học pháp lý cũng có nhiều các quan điểm khác nhau về khái niệm tái thâm. - Quan điểm thứ nhất là quan điểm được nêu tại Điều 304 BLTTDS năm 2004 về tinh chat của tái thẩm: “Tdi thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Toà án, các đương sự không biết được khi Toà án ra bản án, quyết định đó ”[L] Mặc dù đây là quan điểm pháp lý chính thống được quy định trong Luật và được nhiều người công nhận nhưng quan điểm này không có tính mới và chưa được cụ thể bởi nó chưa thê hiện được một góc nhìn về tái thâm: Tái thâm là một chế định pháp luật? La một thủ tục trong TTDS? Là một giai đoạn xét xử trong TTDS? Hay là một trình tự đặc biệt trong TTDS? Vi vậy, đây là một khái niệm mang tính chung nhất có tính chất cơ sở ban đầu cho những nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này.
- Quan điểm thứ hai, nhìn sang phía các quan điểm về tái thâm trong TTHS. Trong đó tiêu biểu là quan điểm được trình bày trong Luận văn thạc sĩ “Thu tuc tái thẩm trong tô tụng hình sự Việt Nam” của Đặng Thị Thùy Vân: “Thu tuc tải thẩm là hình thức pháp lý mà Tòa án có thẩm quyển áp dung dé xét lại bản án hoặc quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật bị người có thẩm quyên kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó, nhằm dam bao sự thật cua vụ an được xác định khách quan, toàn điện và đây du” [5,tr.17] Có thé thay, quan điểm này tiếp cận khái niệm tái thắm trên phương diện là một thủ tục trong tố tụng và có một cái nhìn đầy đủ, khá toàn diện về khái niệm tái thâm. Khái niệm đã nêu được tính chất, mục đích, đối tượng, thâm quyền tái thâm. Là hai ngành Luật khác nhau, có phạm vi điều chỉnh khác nhau.
Nhưng cả TTDS và TTHS Việt Nam đều có các quy định về tái thấm gần giống nhau. Vi thế, các quan điểm pháp lý về tái thâm của TTHS có tác dụng lý luận lớn đối với việc nghiên cứu, phát triển hoàn thiện các quy định về tái thâm trong TTDS và ngược lại. Như vậy, có thê khái quát “Tdi thẩm là việc Tòa án có thẩm quyên xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị người có thẩm quyên kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Toà án không biết được khi Toà án ra bản án, quyết định đó nhằm dam bao sự thật của vụ an được xác định khách quan, toàn điện va đây du”. Day là khái niệm mang tính khái quát chung về tái thâm.
Do đối tượng điều chỉnh, phương thức điều chỉnh khác nhau nên khái niệm tái thâm trong TTHS và tái thâm trong TTDS là khác nhau. Ở trên, chúng tôi cũng đã có trích dẫn khái niệm tái thâm trong TTHS mà theo chúng tôi là mới nhất, đầy đủ nhất. Vậy tái thâm trong TTDS là gì? Dựa vào khái niệm mang tính khái quát trên, theo chúng tôi “Tdi thẩm trong TTDS là việc Tòa án có thẩm quyên xem xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật bị người có thẩm quyên kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định dân sự mà Toà án, các đương sự không biết được khi Toà án ra ban án, quyết định dân sự đó nhằm đảm bảo sự thật của vụ án được xác định khách quan, toàn diện và day đủ” Xét trên khía cạnh khoa học pháp lý, tái thâm có thể được nhìn nhận với nhiều góc độ khác nhau. Có quan điểm nhìn nhận nó với góc nhìn của một thủ tục đặc biệt trong tố tụng dân sự.
Có những quan điểm lại nhìn nhận nó với góc nhìn của một chế định pháp luật. Có những quan điểm lại nhìn nhận và cho rằng nó là một giai đoạn xét xử. Do thời gian nghiên cứu có hạn cùng với phạm vi của luận văn, tác giả sẽ nhìn nhận và nghiên cứu tái thấm với tư cách là một chế định pháp luật. Theo đó “Chế định tái thẩm trong pháp luật tổ tụng dân sự Việt Nam là tổng hợp các quy định của pháp luật to tụng dan sự Việt Nam quy định về việc Tòa án có thẩm quyên xem xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật bị người có thẩm quyên kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định dân sự mà Toà án, các đương sự không biết được khi Toà an ra ban án, quyết định dân sự đó nhằm đảm bảo sự thật của vụ án được xác định khách quan, toàn diện và day đu ””.
Dac điểm của tái thẩm - Đối tượng của tái thẩm: Là các bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện ra những tình tiết mới. Khác với xét xử sở thâm và phúc thẩm, tái thắm không phải là một cấp xét xử. Đối tượng của nó cũng không phải là nội dung vụ án mà là bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Từ đó đối tượng của tái thấm có những đặc điểm cơ bản sau: + Thứ nhất, đỗi tượng của tái thẩm cũng giống như đối tượng của giám đốc thâm là bản án hoặc quyết định của của Tòa án chứ không phải là vụ án như ở cấp sơ thâm va phúc thẩm.
Tòa án có thâm quyền tái thắm không xem xét, đánh giá và kết luận lại những van đề về nội dung vụ án vì đó thuộc về thẩm quyền tuyệt đối của các cấp xét xử sơ thâm và xét xử phúc thâm.