CHƯƠNG 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CƠ BAN VE PHAM VI XÉT XU CUA TOA AN TRONG CAC VU AN DAN SU’ 1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của phạm vi xét xử của Tòa án trong các vụ án dân sự 1. Khái niệm về phạm vi xét xử của Tòa án trong các vụ án dân sự Đương sự trong tô tụng dân sự có quyền quyết định và tự định đoạt, điều này được quy định tại Điều 5 BLTTDS là một nguyên tắc. Như vậy, với tinh thần của nguyên tắc trên các chủ thể là các bên trong, quan hệ pháp luật nội dung và khi quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm có rất nhiều cách thức dé bảo vệ quyền, lợi ích của mình và nhiều cách thức dé giải quyết tranh chấp và quyền lựa chọn thuộc về các chủ thể. Trong trường hợp không đồng ý với các giải pháp đạt được hoặc không thể giải quyết được vấn đề tranh chấp bằng các biện pháp đó, các chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo trình tự thủ tục t6 tụng dân sự dé bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Khi Tòa án thụ lý vụ án, các chủ thể trong quan hệ pháp luật nội dung tham gia vào quan hệ tố tụng dân sự trở thành các bên đương sự. Quá trình tố tung dân sự giải quyết vụ án dân sự được khởi động ké từ khi nguyên đơn nộp đơn cho Tòa án và được Tòa án thụ lý đơn khởi kiện, nộp tạm ứng án phí, Tòa án ghi vào sô thụ lý đơn, thụ ly vụ án giải quyết. Khi thụ ly đơn khởi kiện và thụ ly vụ án, Tòa án phải xác định nhiều van dé trong đó mau chốt là việc xác định về “Pham vi xét xử của Tòa án”, toàn bộ quá trình tố tụng đến trước phiên tòa thì Tòa án, Thâm phán được phân công giải quyết vụ án dân sự cụ thê sẽ phải xác định điều này. Vậy “phạm vi xét xứ cua Toa an trong các vụ án dan sự” là gì? Trước hết xây dựng khái niệm phạm vi xét xử của Tòa án trong các VADS ta có thể tiếp cận dưới hai góc độ ngôn ngữ học và dưới góc độ một thuật ngữ luật học sẽ cho ta cái nhìn toàn diện và sâu săc vê khái niệm này.
Dưới ngôn ngữ học “phạm vi” có thê được hiểu theo các nghĩa: “Khoảng được giới hạn của một hoạt động, một vấn đề hay một cái gì”, đồng nghĩa với từ “khuôn khổ” [11, tr. 764] Còn “giới han là phạm vi, mức độ nhất định không thể hoặc không được phép vượt qua” [11, tr. “Pham vỉ” còn có thé được hiểu là một danh từ ghép bắt nguồn từ tiếng Hán trong đó “phạm” có nghĩa là “khuôn phép”; “vi” có nghĩa là “vây bọc” và phạm vi được hiểu là: “khuôn khổ giới hạn một hoạt động” [20]. Ngoài ra, còn có thể tham khảo một từ có nghĩa tương đương với “phạm vi’ đó là “giới han” được hiểu là “phạm vi, mức độ nhất định, không thể hoặc không được phép vượt qua ”[L1, tr.
390] Theo từ điển Luật học thì: “xé xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trai pháp luật của vụ việc ” [12, tr. 869] Như vậy, nếu xem xét dưới góc độ ngôn ngữ học thì khái niệm phạm vi xét xử của Tòa án trong các vụ án dân sự có thé được hiểu: “/d việc Tòa án có thẩm quyên giải quyết vụ án dân sự xét đánh giá vu án dân sự trong những khoảng giới hạn của vụ án, những van dé cụ thé được đặt ra. Nhằm dua ra một bản án giải quyết triệt dé về vu án dân sự đó, bảo vệ kịp thời quyên, lợi ich hợp pháp của các đương su” Tuy nhiên, khi xem xét khái nệm “phạm vi xét xử cua Tòa an trong các vụ an dân sự” thi trong khoa hoc tố tụng dân sự van dé nay chua duoc su quan tam nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống. Bởi vậy, đến nay chưa có một khái niệm chính xác, đầy đủ và thống nhất về phạm vi xét xử của Toa án trong các vụ án dân sự nói chung va ở cấp xét xử sơ thầm, cấp phúc thâm nói riêng.
Nhận thấy, khái niệm phạm vi xét xử trong tố tụng dân sự cũng có nội hàm gân với khái niệm giới hạn xét xử trong tô tụng hình sự. Theo đó, có thé hiểu rang, giới hạn hay phạm vi xét xử của tòa án không phải là vô hạn, thể hiện ý chỉ chủ quan của cơ quan tiễn hành tố tụng mà nó được luật hóa. Tùy vào nội dung, tính chất của vụ việc đưa ra xét xử. Nếu như trong tố tụng hình sự quy định giới hạn xét xử của tòa án chính là phạm vi những người, những hành vi mà VKS truy tố trong cáo trạng.
Chính yếu tố này, làm cho tòa án luôn là cơ quan xét xử chứ không phải là cơ quan buộc tội. Trong TTDS, vì tính chất của dân sự là việc tư của đương sự, nên bao giờ luật cũng tôn trọng sự thỏa thuận của các bên. Tòa án trong xét xử vụ việc dân sự chỉ là cơ quan đứng ra giải quyết những mối xung đột, những sự kiện pháp lý mà đương sự cung cấp. Vì vậy, khác với việc tòa án giải quyết vụ án hình sự là dựa trên cáo trạng của Viện kiểm sát thì trong tố tụng dân sự Tòa án xác định phạm vi xét xử của mình dựa trên cơ sở yêu cầu của đương sự, thé hiện ở hình thức là đơn kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập của người có nghĩa vụ liên quan.
Từ những phân tích trên đây chúng ta có thé kết luận rang: “Pham vi xét xử của tòa án là giới hạn những nội dung mà Tòa án được xem xét, giải quyết trên cơ sở yêu cầu của đương sự và tiễn hành dựa trên quy định của pháp luật to tụng dán sự”. Các loại phạm vi xét xử của Tòa án trong các vụ án dan sự Khái niệm “phạm vi xét xử của Tòa án trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự” là một khái niệm chung. Trong khi đó quá trình giải quyết các VADS bao gồm nhiều thủ tục: sơ thâm, phúc thâm. Vì vậy, khái niệm “pham vi xét xử cua Toa an trong các V4DS” bao hàm cả khái niệm “phạm vi xét xứ của Toa an ở cấp sơ thẩm các vụ án dân sự”, “phạm vi xét xử của Toa an ở cap phúc thâm các vụ án dân sự ”.
* Phạm vi xét xử của Tòa án ở cap sơ thâm các vụ án dân sự Trước đây các quan hệ tố tụng dân sự chịu sự điều chỉnh của PLTTGQCVADS năm 1989 cũng chưa có một quy định nào quy định về phạm vi xét xử của Tòa án ở cấp sơ thâm các VADS, các quy định của PLTTGQCVADS cũng không giúp Tòa án có thể xác định được phạm vi xét xử sơ thâm vụ án dân sự một cách rõ ràng. Với quy định như vậy,sẽ cho thấy PLTTGQCVADS chỉ nguyên đơn mới có quyên “thay đổi yêu cầu” của mình, còn bị đơn có quyên “phản đôi yêu câu của nguyên đơn”. Tại Điều 35 PLTTGQCVADS khi quy định về quyền thay đổi yêu cầu của người khởi kiện: “7zước khi Toà án mở phiên toà, người đã khởi kiện có quyên thay đổi yêu câu đã được nêu khi khởi kiện; tại phiên toà việc thay đổi yêu cau chỉ được chấp nhận nếu không phải hoãn phiên toà dé điều tra thêm ” Sự không rõ ràng khi quy định “người khởi kiện” trong trường hợp này thì chỉ có nguyên đơn mới có quyền thay đổi yêu cau, còn bị đơn thì luôn bị động trước những yêu cầu của người khởi kiện. Phạm vi xét xử sơ thâm vụ án dân sự được xác định dựa trên các yêu cầu của nguyên đơn trình bày trong đơn khởi kiện và việc thay đôi phạm vi xét xử phụ thuộc vào việc thay đôi phạm vi yêu cầu của người khởi kiện theo quy định của PLTTGQCVADS là đến trước thời điểm mở phiên tòa sơ thâm vụ án dân sự.
Tại phiên tòa sự thay đổi yêu cầu của người khởi kiện chỉ được chấp nhận nếu các yêu cầu này “không phải hoãn phiên tòa dé điều tra thêm”. Như vậy, về cơ bản phạm vi xét xử sơ thâm vụ án dân sự theo quy định của PLTTGQCVADS là xác định dựa trên yêu cầu của “người khởi kiện”, bị đơn có quyền “ phản đối yêu cẩu của nguyên đơn và có quyên dé đạt yêu câu có liên quan đến yêu cẩu của nguyên don” như vậy phạm vi yêu cầu của bị đơn hoàn toàn bị gắn chặt vào phạm vi các yêu câu của nguyên don. Hiện nay, PLTTDS hiện hành chưa có một quy định cụ thể nào để xác định vê phạm vi xét xử của Tòa án cap sơ thâm VADS. Tuy nhiên, căn cứ vào 10 các quy định của PLTTDS hiện hành ta cũng có thể xác định được “phạm vi xét xử của Tòa an ở cấp sơ thẩm các vu án dân sự ”.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 BLTTDS thì đây là một căn cứ pháp lý đầu tiên để có thể xác định và xây dựng khái niệm về phạm vi xét xử của Tòa án ở cấp sơ thầm các vu án dân sự. Nhưng nếu chi căn cứ vào phạm vi “đơn khởi kiện” và “đơn yêu cầu” của các đương sự để xác định phạm vi xét xử so thâm vụ án dân sự là không chính xác, vì ngay tại quy định tại khoản 2, Điều 5 BLTTDS có quy định các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình. Như vậy, phạm vi xét xử VADS ở cấp sơ thâm không bị bó hẹp một cách chết cứng, mà gắn với đơn khởi kiện hay đơn yêu cầu của các đương sự và có thể thay đôi tùy theo sự thỏa thuận của các đương sự hoặc do ý chí của các đương sự muốn cham dứt hoặc “thay đổi, bồ sung” các yêu cầu ban đầu của mình. Ngoài ra, phạm vi xét xử sơ thâm VADS của Tòa án còn phụ thuộc vào thâm quyền của Tòa án cấp sơ thâm về loại việc và về cấp xét xử theo quy định của BLTTDS, vụ việc mà nguyên đơn khởi kiện phải thuộc thầm quyền xét xử sơ thầm của Tòa án thì Tòa án đó mới có quyên tiến hành việc xét xử, đó là cơ sở xác lập phạm vi xét xử sơ thâm vụ án dân sự của Tòa án.