Chương I: Một số van đề lý luận về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự - Chương II: Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu đối với một SỐ vu việc dân sự cụ thể theo pháp luật Việt Nam hiện hành - Chương III: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo B- NOI DUNG CHUONG I: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE THỜI HIỆU KHOI KIỆN VU ÁN DAN SU VA THỜI HIEU YEU CÂU GIẢI QUYET VIEC DAN SU 1. Khái niệm thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự 1.1 Khái niệm vụ việc dân su, vu an dân sự, việc dân sự Trong lĩnh vực dân sự, lợi ích của các bên được xem như là tiên dé dẫn đến tranh chấp, yêu cầu về dân sự. Tranh chấp pháp lý sẽ không thể xuất hiện, nếu không có yêu cau, khởi kiện của các bên. Khởi kiện là hành vi đầu tiên của các cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự.
Khởi kiện, yêu cầu trước hết là quyền dân sự của các chủ thể, là phương thức mà các chủ thê yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền dân sự cho mình, cho nhà nước hoặc người khác. Tuy nhiên, quyền khởi kiện của các chủ thể chỉ làm phát sinh nghĩa vụ thụ lý vụ việc của Tòa án khi việc khởi kiện tuân thủ đúng và đủ các điều kiện khởi kiện về nội dung, về hình thức khởi kiện và tạm ứng án phí. Việc xem xét, thụ lý yêu cầu, khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tô chức chính là sự bảo đảm của nhà nước đối với việc thực hiện các quyền dân sự của các chủ thê đã được pháp luật ghi nhận va làm phát sinh tại Tòa án các vụ việc dân sự. Pháp luật của đa số các nước trên thế giới đều quan niệm vu việc dan sự là các tranh chấp, yêu câu phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng được Tòa án thụ lý giải quyết (bao gồm: Dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động).
Do đó, theo pháp luật của nhiều nước trên thế giới không có sự tách biệt giữa khái niệm vụ án dân sự và việc dân sự như pháp luật Việt Nam hiện hành mà chỉ có khái niệm vụ việc dân sự. Ở Việt Nam, trước năm 2004, theo quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết vụ án lao động tồn tại ba khái niệm: vụ án dân sự, vụ án kinh tế, vụ án lao động. Theo đó, vụ án kinh tế bao gồm các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa cá nhân có đăng ký kinh doanh với pháp nhân, các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thê công ty, tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật. Vụ án lao động bao gồm các tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động và người sử dụng lao động về quyên và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về thực hiện hợp đồng lao động va trong quá trình học nghé, tranh chap lao động tập thé giữa tập thê người lao động với người sử dụng lao động về thực hiện thỏa ước lao động tập thẻ, về quyền thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn.
Vụ án dân sự bao gồm những tranh chấp và những việc không có tranh chấp về dân sự và hôn nhân gia đình như: tranh chấp về quyền sở hữu, hợp đồng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc những tranh chấp khác. Như vậy, trong các Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết vụ án lao động không có khái niệm vụ việc dân sự mà chỉ có các khái niệm vụ án dân sự, vụ án kinh tế, vụ án lao động trong đó bao gồm cả những việc có tranh chấp và những việc không có tranh chấp. Trên cơ sở đường lỗi đổi mới của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyên, về cải cách tư pháp, tại kỳ họp thứ 5, từ ngày 11 tháng 5 đến ngày 15 tháng 6 năm 2004, Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) (có hiệu lực từ ngày 01/01/2005). BLTTDS là kết quả của sự pháp điển hóa quan trọng và khắc phục được nhiều điểm bất cập, chưa khả thi của các Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (PLTTGQCVAKT), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (PLTTGQCTCD).
Bên cạnh đó, BLTTDS còn tách các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết đối với trường hợp các bên có tranh chấp (thủ tục tố tụng thông thường) và trình tự, thủ tục giải quyết đối với trường hợp các bên không có tranh chấp mà chỉ có yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiện pháp lý hoặc một quyền dân sự (thủ tục tố tụng đặc biệt). Do đó, theo các quy định của BLTTDS thì vụ án dân sự là các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động giữa các bên đương sự được Tòa án thụ lý giải quyết. Cụ thé hơn, vụ án dân sự là các tranh chấp quy định tại các điều 25, 27, 29 va 31 BLTTDS mà được Tòa án thụ lý giải quyết theo yêu cầu của các cá nhân, cơ quan, tổ chức. Việc dân sự là các yêu cầu của các cá nhân, cơ quan, tô chức yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của các cá nhân, cơ quan, tô chức khác, yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyên về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được Tòa án thụ lý giải quyết.
Cụ thê hơn, việc dân sự là các yêu cầu quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 BLTTDS mà được Tòa án thu lý giải quyết theo yêu cầu của các cá nhân, cơ quan, tổ chức. Việc dân sự là trường hợp không có tranh chấp giữa các bên đương sự. Vì vậy, vụ việc dân sự bao gồm vụ an dân sự và việc dân sự. Chính vì có sự phân biệt giữa vụ án dân sự và việc dân sự nên có sự phân biệt giữa thời hạn dé các cá nhân, cơ quan, tô chức yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự và thời hạn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự.
Từ đó hình thành nên hai khái niệm thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự. Khái niệm và đặc điểm của thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự Trong giao lưu dân sự, các chủ thể tham gia quan hệ được hưởng quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ dân sự, việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của bên này sẽ xâm phạm tới lợi ích của bên kia. Khi đó bên có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm có quyền thực hiện các biện pháp dé bảo vệ. Tuy nhiên, cùng với thời gian việc bảo vệ quyền, lợi ích trở nên khó khăn hơn.
Vi thế pháp luật quy định một thời hạn nhất định cho sự phát sinh, tồn tại hay chấm dứt quyền, nghĩa vu dân sự, các biện pháp bảo vệ quyên, lợi ích. Thời hạn này được gọi là thời hiệu. “ Thời hiệu là thời hạn do pháp luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự hoặc mat quyên khởi kiện vụ án dân sự, yêu cẩu giải quyết việc dén sự ”. Có thê thấy thời hiệu trước tiên là một khoảng thời gian do pháp luật quy định, nó có điểm bắt đầu và điểm kết thúc.
Tùy thuộc vào tính chất của từng quan hệ cụ thé mà khoảng thời gian này có thé dài hay ngắn, cũng có những trường hợp không áp dụng thời hiệu như: yêu cầu hoàn trả tài sản thuộc hình thức sở hữu Nhà nước, yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân. Theo quy định của pháp luật dân sự, có các loại thời hiệu như: Thời hiệu hưởng quyền dân sự, thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự. Đối với các nước không có sự phân biệt giữa vụ án dân sự và việc dân sự thì thời hạn dé các cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự được gọi là thời hiệu khởi kiện. Theo pháp luật t6 tụng dân sự Việt Nam thi thời han để các cá nhân, cơ quan, tô chức có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự được gọi là thời hiệu khởi kiện.
Thời hạn để các cá nhân, cơ quan, tô chức có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự được gọi là thời hiệu yêu cầu. Tuy nhiên, dù là thời hiệu khởi kiện hay thời hiệu yêu cầu thì đều có những đặc điểm sau: 1. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cẩu do pháp luật quy định Khi các chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm và thực hiện quyền khởi kiện, quyền yêu cầu của mình thi họ phải tuân thủ các quy định 10 của pháp luật về thời hiệu khởi kiện, yêu cầu. Họ chỉ có thé thực hiện được quyền khởi kiện, quyền yêu cầu của mình khi còn thời hiệu.
Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu được quy định trong các văn bản pháp luật một cách cụ thé, trước khi các tranh chấp giữa các chủ thé xảy ra, các chủ thé không thể thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện hay thời hiệu yêu cầu.