Chương 1: NHỮNG NÉT CHUNG VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ. PHÁT TRIEN CUA CHẾ ĐINH HÒA GIẢI. Lịch sử phát triển của chế định hòa giải ở Việt Nam. Giai đoạn tử 1945-1974 1.
Cai đoạn tu 1974-1989 1. Giai đoạn tử 1989 đến nay. Hòa giải theo quy định của các ngành pháp luật khác. Hòa giải theo quy định của pháp luật nước ngoài.
4 Chuong 2: HÒA GIẢI TRONG PHÁP LUAT TO TUNG DAN SỰ HIỆN HANH 2.Khai niệm về hỏa giải trong pháp luật tố tung dân sự việt nam. Tham quyền hòa giải. Thủ tục và phương pháp hòa giải. Giá trị pháp lý của việc hòa giải thành.
THUC TIEN HÒA GIẢI VÀ NHỮNG VẤN DE CAN HOÀN THIỆN PHÁP LUAT VỀ HÒA GIẢI 3. Thực tiễn áp dụng. Những vấn đề cần hoàn thiện pháp luật về hòa giải. KẾT LUẬN VÀ KIEN NGHỊ + + + Thông qua luận án tốt nghiệp này, sau khi đã nghiên cứu về lý luận cũng như thực tiễn về công tác hòa giải, tôi hy vọng bằng khả năng của mình đóng góp một vài ý kiến, nhận thức về các quy định về hỏa giải cùng như việc áp dụng thủ tục này trong quá trình giải quyết vụ án.
Với lượng kiến thức và thông tin còn hạn chê; chắc chắn bản luận án không thể tránh khỏi những khiếm khuyết, vì vậy tôi rất mong nhận dược sự đóng góp phê bình để có thể tiến tới sự hoàn thiện. Xin chân thành cam on PTS luật học Dinh ngọc Hiện, Cơ quan Tòa án tỉnh Hải Hưng, Tỏa án nhân dân Tối cao, Trưởng đại học Luật Hà Nội đã giúp đố tôi hoàn thành luận án tốt nghiệp này. Chuong I NHỮNG NET CHUNG VE SỰ HÌNH THÀNH VA PHAT TRIEN CHẾ ĐỊNH HOA GIẢI 1. Lich sử phát trién của chế đinh hòa giải ở Viêt Nam.
Hòa giải là một hoạt động xã hội có từ xa xưa được con người vận dụng trong cuộc sống hàng ngày. Trong quá trình lao động, sàn xuất, sinh hoạt, các thành viên cộng đồng có những mâu thuẫn nhất định cần được giải quyết, họ. được mot người hoặc một nhóm người (những người này có uy tín, có quyền lực) can thiệp và cách giải quyết của những người này không chỉ bằng biện pháp cưỡng chế mà còn bằng biện pháp thuyết phục, giáo dục, khuyên giải các bên dé đi đến một cách giải quyết ôn thỏa. Cách giải quyết bằng thuyết phục, thương lượng bao giờ cũng được sử dụng nhiều hơn, hiệu quà hơn và kết quà giài quyết cũng được thực hiện nhanh hơn.
Thực tế da chứng tỏ ld, hoạt động hòa giài mang lại kết qua tốt đẹp cho xã hội. Khi nhà nước, pháp luật được hinh thành, các biện pháp thương: lượng, thuyết phục đều được sử dụng như những đối sách mang tính chất phô biến rộng rãi và hinh thanh hoạt động hòa giải với nhiều hình thức khác nhau đề giải quyết các tranh chấp, xích mích nhỏ phát sinh trong nhân dân và trong tố tụng dân sư nó đã được sử dụng như một biện pháp quan trọng, hữu hiệu, mang kết qủa cao. Ở Việt Nam, hòa giải trở thành một nguyên tắc quan trọng mang tính chất đặc thù của luật dân sự và tố tụng dân sự. Thông qua nguyên tắc này, quyền tự định đoạt của đương sự được thực hiện một cách triệt dé, mà về ban chất, nó là một trong những biêu hiện tốt đẹp của pháp luật Việt Nam, pháp luật xa hội chủ nghĩa.
Chế định hòa giải ở nước ta có một lich sử hinh thành va phat trién kề từ khi Nha nước Việt Nam dân chủ nhân dân ra đời (tháng tam năm 1945), có thé điềm lại từng giai đoạn đó như sau: 1.1 Giai doan tu nam 1945 dén 1974: Voi thang loi vi dai cua cách mang tháng Tám năm 1945 do Dang cong sàn Việt Nam tổ chức va lãnh đạo, nhân dân ta đã dập tan ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật giành độc lập dân tộc trong phạm vi toàn quốc. Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã khang định nước ta là một nước độc lập, tự do, dân chủ va thống nhất, một nước có chủ quyền. Nhà nước ta đã xóa bỏ ngay bộ máy chính quyền cũ và may dựng một bộ máy Nha nước cách mang mới. Hiến pháp đầu tiên của nước ta (năm 1946) đã chỉ 10 nhiém vu của dân tộc ta trong giải.
GGẾU, này là bảo toàn lãnh thô, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tang dân chủ. Về lĩnh vực pháp luật, trong thời kỳ này do chúng ta chưa thê xây dung ngay được các bộ luật mới, nên Sắc lệnh ngày 10/10/1945 qui định: " Cho đến khi ban hành những bộ luật duy nhất của toàn coi Việt Nam, các luật lệ tiến hành ở Bắc, Trung, Nam bộ vẫn tạm gig nguyên như cũ với điều kiện là những qui phạm pháp luật cũ chi được thi hành nếu không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thé cộng hòa". Các tòa án nhân dân ở giai đoạn này có nhiệm vụ xét xử những vụ án về hình. sự dé trừng trị kẻ phạm.
tội và giải quyết những việc tranh chấp về dân sự trong nhân dân đề bào vệ chế độ dân chủ nhân dan, trật tự xã hội, tài san công cộng và quyền lợi hợp pháp của nhân dân, góp phần bào đàm cho công cuộc xây dựng, thống nhất đất nước. Các văn bàn pháp luật trong giai đoạn này ngoài Hiến pháp 1946 ra còn lại hầu hết là các sắc lệnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh ky ban hành quy định về các lĩnh vực trong đời sống xã hội. Các văn bản quy định về hòa giài cũng không nằm ned pham vi các văn bản trên. Văn ban pháp luật đầu tiên có quy định về hòa giải là Sắc lệnh số 13 ngày 21/1/1 946 về tô chức Téa án, trong đó có quy định ban tư pháp Xã có quyền: ' Hòa giải tất cà các việc dân sự và thương sự.
Nếu hòa giải được ban tư pháp xã có thể lập biên ban hòa giải có các ủy viên va những đương sự ky. Tiếp theo là Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 về thẳm quyền của Tòa án, qui định ban tư pháp xã hòa giải tất cà các việc hộ và thương mại do các người đương sự muốn mang ra trước ban tư pháp ấy. Biên ban hòa giải thành chi có hiệu lực tư chưng thư (Điều 4) Thời gian này tô chức các Tòa án bao gồm Ban tư pháp xã, Tòa án sơ cap (ở các quận, huyện)Tòa án đệ nhị (ở cấp tinh) va Toda thượng thầm (tối cao)(2) nhiệm vụ hòa giải các tranh chấp trong nhân dân chủ yêú đặt ra cho ban tư pháp xã vi dây là tổ chức gần dân có kha năng nắm vững và kịp thời tranh chấp trong nhân dân, còn Tòa án sơ câp do chi có một thầm phán chủ yêú giải quyết VIỆC hinh nên nhiệm vụ hòa giài của ban tư pháp còn góp phần giam bớt công việc cho tòa sơ cấp. Trong trường hợp hòa giài thành các đương sự không phải nộp lệ phí cho tòa án (Sắc lệnh 113 ngày 28/6/1946).
Ngày 10/5/1950 Thư trưởng Trần Công Tường thay mặt Bộ trưởng Bộ tư pháp lập tờ trình lên Chủ tịch nước về cài cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng với nội dung: - Nhiệm vụ chính của cơ quan tư pháp không những là xét xử mà còn là hòa giải những vụ xich mich ở địa phương dé giam bớt sự tranh tụng. Sự thành lập hội đồng hòa giải tại mỗi huyện có mục đích giao cho nhân dân trực tiếp phụ trách Việc hòa giải tất cà các việc hộ kể ca việc ly dị mà từ trước tới nay chỉ có Chánh án toà ăn mới có thâm quyền. Biên bản hòa,giải thành có chấp hành lực đây là một điều tiến bộ đối với thé lệ cũ. Khi các đương sự đã thỏa thuận trước hội đồng hòa giài thì việc hòa giài được đem thi hành ngay.
Sau khi nhận được tờ trinh trên ngày 22/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh da ký Sắc lệnh 85 - SL về cài cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng. Điều 9 sắc lệnh này quy định. hòa giải tất cà các vụ kiện về dân sự và thương sự kê cà việc xin ly dị trờ những vụ kiện mà theo luật pháp đương sự không có quyền điều đỉnh ".(3) Cũng theo Sắc lệnh này, biên ban hòa giải thành do Tòa án lậ có giá trị là một công chính chứng thư có thê đem chấp hành ng, Tuy nhiên, cho đến lúc biên bàn hòa giài được chấp hành xong, nếu 2. Tập sắc lệnh do Chủ Tịch HCM ký SL 13-24/1/1946 Tr 412, 413 3.
Tập sắc lệnh do Chủ Tịch HCM ky SL 85 tr 519, 520 biện lý xét biên bàn phạm đến trật tự chung thi có quyền yêu cầu Tòa án có thầm quyền sửa đổi lại hoặc bác bỏ những điều mà hai bên đã thỏa thuận. Phòng biện lý được quyền kháng cáo 15 ngày tròn kê từ ngày nhận được biên ban hòa giải thành (điều 10 - SL). Nếu hòa giải bất thành mà tòa án có thầm quyền chưa quyết định gi thi hội đồng hòa giải có thê tạm thời cho thi hành những phương pháp bảo thủ cần thiết. Tòa án nhân dân huyện phai đệ trình ngay hồ sơ cùng biên bàn hòa giải bất thành ghi việc cho thi hành những phương pháp bào thủ lên Tòa án có thâm quyền.
Tòa án này sẽ duyệt y, sửa chữa hay bác bố nhưng phương pháp bào thủ nêú xét thấy không cần thiết nữa (Điều 11 - SL). Còn đối với người khác với người đương sự, xét mỉnh bị thiệt hại vì biên bàn hòa giải thành có quyền đệ đơn yêu cầu tòa án nhân dân huyện ra mệnh lệnh hoàn lại chấp hành biên ban hòa giải ấy và người bị thiệt hại phai đệ đơn trong hạn 15 ngày tròn sau khi biên ban hòa giải thành có điều khoàn thiệt hại đến quyên lợi của mình hoặc sau khi biết sự chấp hành biên bàn này. Như vậy với các văn bản pháp luật quy định về hòa giải trong giai đoạn này chúng ta thấy nỗi bật,một số vấn đề sau: a/ Về thâm quyền hòa: giải: Cơ quan đứng ra hòa giài bào gồm ban tư pháp xã và các Tòa án nhân dân cấp huyện. Các vụ án phải hòa giài bao gồm tất cà các.