Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hoạt động điều tra khám nghiệm hiện trường 1. Khái niệm hoạt động điều tra khám nghiệm hiện trường Hiện trường là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Theo Từ điển Tiếng Việt, hiện trường “là nơi diễn ra sự việc hay hoạt động thực tế” [19, tr.
Đây là khái niệm có tính khái quát chung nhất cho các loại hiện trường. Nội hàm của quan niệm này đã chỉ rõ thuộc tính cơ bản của hiện trường. Đó là: - Thứ nhất, hiện trường là “nơi”, đó là sự tồn tại của một địa điểm trong không gian xác định, ở đó xảy ra một sự việc, hiện tượng và sự việc hiện tượng đó được kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định. - Thứ hai, hiện trường có sự việc xảy ra, những sự việc này mang tính chất bất kỳ, ngẫu nhiên.
Điều này có nghĩa là mỗi sự việc, hiện tượng, quá trình nào đó xảy ra trong hiện thực khách quan thì đều phải có hiện trường, thể hiện rõ quy luật mỗi sự việc, hiện tượng hay quá trình nào đó xảy ra trong hiện thực khách quan đều để lại hiện trường. Vì vậy, trong đời sống xã hội, thuật ngữ “hiện trường” được sử dụng khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong điều tra hình sự nói riêng cũng như trong tố tụng hình sự nói chung, nhận thức một cách đúng đắn và đầy đủ khái niệm “hiện trường” có ý nghĩa quan trọng trong công tác giải quyết vụ án hình sự và phòng ngừa tội phạm. Thuật ngữ “Hiện trường” đã được sử dụng trong một số tài liệu, công 7 z trình khoa học như các giáo trình, luận án, luận văn.
gắn với hoạt động điều tra khám nghiệm hiện trường. Tuy nhiên, xung quanh khái niệm này còn tương đối nhiều ý kiến khác nhau. Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam: “Hiện trường, nơi diễn ra sự việc hay hay hoạt động thực tế” [4]. Nội dung của khái niệm này chưa chỉ ra được sự việc cụ thể, do đó không xác định được đâu là hiện trường chủ đạo, đâu là hiện trường chính để tiến hành khám nghiệm thu thập dấu vết vật chứng, sự việc khi "diễn ra" là một chuỗi các hành vi khác nhau, kéo dài trong những khoảng thời gian khác nhau và tồn tại trong những không gian cũng khác nhau và khái niệm này cũng rơi vào trạng thái: những sự việc mang tính bất kỳ và những hoạt động thực tế mang tính bất kỳ.
Giáo trình Bảo vệ và khám nghiệm hiện trường, năm 2004 của Học viện Cảnh sát nhân dân nêu quan điểm: “Hiện trường là nơi xảy ra vụ việc mang tính hình sự” [12, tr. Khái niệm này được các tác giả phân tích, kế thừa các khái niệm trước đó để đưa ra khái niệm tương đối hoàn chỉnh về hiện trường. Trong cuốn sách “Khoa học hình sự”, tập 3, năm 2012 của Học viện Cảnh sát nhân dân, các tác giả cho rằng: “Hiện trường là nơi xảy ra, nơi phát hiện sự việc mang tính hình sự” [20, tr. Một số công trình, tài liệu khác cũng ghi nhận cách định nghĩa tương tự về hiện trường.
Tuy nhiên, định nghĩa trên vẫn chưa thực sự hoàn chỉnh, chưa khái quát hết được bản chất của hiện trường nên có thể dẫn đến những cách hiểu còn phiếm diện, thiếu chính xác. Hiện trường theo quan điểm của Giáo trình khoa học điều tra hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2014 là: “nơi xảy ra, nơi phát hiện các vụ phạm tội hoặc vụ việc mang tính hình sự” [31, tr. Chúng tôi cũng đồng thuận với quan điểm trên và cho rằng: “Hiện trường trong điều tra hình sự là 8 z khái niệm chỉ địa điểm phát sinh, phát hiện các vụ phạm tội hoặc các vụ việc mang tính hình sự”. Khái niệm này bao hàm các nội dung: Thứ nhất, hình thức tồn tại của hiện trường với tư cách là một địa điểm cụ thể có một khoảng không gian xác định.
Hiện trường gồm hai loại địa điểm đó là nơi xảy ra và nơi phát hiện ra vụ phạm tội hoặc vụ việc mang tính hình sự, cụ thể: - Nơi xảy ra vụ việc là nơi mà quá trình diễn biến của các vụ phạm tội hay vụ việc mang tính hình sự đã để lại những dấu vết, vật chứng trên đó. Nơi xảy ra vụ việc có thể là: nơi chuẩn bị, nơi tiến hành, nơi che giấu hành vi phạm tội - Nơi phát hiện vụ việc có thể chính là nơi xảy ra tội phạm hay các vụ việc mang tính hình sự hoặc không là nơi xảy ra nhưng có thể là nơi tìm thấy được các dấu vết, vật chứng có liên quan đến vụ việc đó. Trong trường hợp nơi phát hiện vụ việc khác nơi xảy ra vụ việc, đó có thể là: + Nơi phát hiện ra dấu vết trong vụ phạm tội hoặc vụ việc mang tính hình sự. + Nơi phát hiện ra công cụ, phương tiện phạm tội.
+ Nơi bắt giữ tội phạm đang trên đường vận chuyển: tức là hành vi được quy định trong cấu thành tội phạm đã hoàn thành rồi nhưng trên đường lưu thông vận chuyển thì bị phát hiện, bắt giữ. Thứ hai, hiện tượng vật chất xảy ra trong không gian hiện trường là các vụ phạm tội hoặc những vụ việc mang tính hình sự. “Vụ việc có tính hình sự là những vụ việc xâm hại đến khách thể do luật hình sự bảo vệ nhưng do chưa đủ thông tin nên chưa xác định được các yếu tố cấu thành tội phạm” [31, tr. 9 z Trong thực tế, hiện trường rất đa dạng, hiện trường có nhiều loại khác nhau, được phân loại theo các tiêu chí phổ biến sau: - Căn cứ vào địa điểm xảy ra vụ việc, hiện trường được chia thành các loại: + Hiện trường trong nhà.
Đó là hiện trường được che chắn hay bao bọc xung quanh bởi các loại vải, phông bạt, mái che, tường nhà. + Hiện trường ngoài trời. Đó là hiện trường không được che chắn, bảo vệ bởi bất cứ một loại mái che nào. + Hiện trường kết hợp giữa trong nhà và ngoài trời.
+ Hiện trường trên các phương tiện giao thông. - Căn cứ vào nội dung và tính chất của vụ việc xảy ra. Các vụ phạm tội hoặc vụ việc có tính hình sự xảy ra ở các hiện trường khác nhau có thể có nội dung và tính chất khác nhau. Vì vậy, dựa vào căn cứ này để chia hiện trường thành nhiều loại, phù hợp với nội dung và tính chất của vụ việc đã diễn ra và để lại dấu vết ở đó như: hiện trường có người chết, hiện trường trộm, hiện trường súng đạn, hiện trường cháy nổ - sự cố kỹ thuật, hiện trường tai nạn giao thông.
- Căn cứ vào diễn biến của sự việc xảy ra: Một hiện trường có thể được quy tụ lại ở một địa điểm, nhưng cũng có thể có nhiều địa điểm khác nhau, đó chính là những bộ phận của hiện trường. Số lượng những bộ phận của hiện trường nhiều hay ít phần lớn phụ thuộc vào diễn biến hành vi của kẻ phạm tội, do đó được chia thành: nơi chuẩn bị thực hiện hành vi phạm tội, nơi thực hiện hành vi phạm tội, nơi che giấu hành vi phạm tội. - Căn cứ vào tình trạng của hiện trường mà chia hiện trường thành hai loại: hiện trường còn nguyên vẹn và hiện trường đã bị xáo trộn. 10 z + Hiện trường còn nguyên vẹn là hiện trường từ khi phát hiện triển khai công tác bảo vệ đến khi khám nghiệm các dấu vết vật chứng chưa bị thay đổi, xáo trộn (hiểu theo nghĩa tương đối), do đó chưa ảnh hưởng tới dấu vết về độ chính xác và đầy đủ.
+ Hiện trường bị xáo trộn là hiện trường từ khi phát hiện triển khai công tác bảo vệ đến khi khám nghiệm, các dấu vết, vật chứng đã bị biến đổi, mất mát. Nguyên nhân của sự xáo trộn là do sự tác động của tự nhiên, sinh vật, con người. dẫn đến những thông tin thu thập được tại hiện trường bị sai lệch. Khám nghiệm hiện trường là biện pháp điều tra có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát hiện, thu thập chứng cứ, tài liệu dấu vết, vật chứng tại nơi xảy ra sự việc phạm tội hoặc nơi phát hiện tội phạm.
Khám nghiệm hiện trường đã được quy định trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới và là đối tượng nghiên cứu trong khoa học điều tra hình sự cũng như khoa học luật tố tụng hình sự. Cụ thể: Khám nghiệm hiện trường được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau và có nhiều quan điểm khác nhau: Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam xác định khám nghiệm hiện trường là: Hoạt động thu thập thông tin liên quan đến vụ, việc đó xảy ra hoặc nơi phát hiện tội phạm. Đó là quá trình sử dụng các kiến thức khoa học - kỹ thuật, có sự hỗ trợ của các phương tiện nghiệp vụ, nhằm phát hiện, thu thập thông tin, dấu vết, vật chứng của tội phạm hoặc nghi có liên quan đến tội phạm để xác định có hay không có tội phạm xảy ra và làm sáng tỏ các tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án [4]. Theo cách lý giải trên, khám nghiệm hiện trường chỉ là hoạt động thu thập thông tin để làm rõ sự việc xảy ra.
11 z Giáo trình “Bảo vệ và khám nghiệm hiện trường”, Học viện Cảnh sát nhân dân, năm 2004 xác định: “Khám nghiệm hiện trường là một hoạt động điều tra tố tụng hình sự nhằm nghiên cứu, đánh giá dấu vết, vật chứng và những tin tức, tài liệu tại hiện trường phục vụ điều tra và xử lý tội phạm” [12, tr. Khái niệm về khám nghiệm hiện trường trong giáo đề cập đến tính căn cứ pháp lý của hoạt động này (được quy định trong BLTTHS). Tuy nhiên quá trình khám nghiệm hiện trường không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu, đánh giá dấu vết vật chứng cũng như các tin tức tài liệu khác tại hiện trường, bởi lẽ có những dấu vết vật chứng không thể tiến hành nghiên cứu, xem xét, đánh giá ngay tại hiện trường được, mà phải nghiên cứu, đánh giá sau đó. Vì vậy, công tác thu lượm dấu vết vật chứng, bảo quản dấu vết vật chứng là một trong những công tác quan trọng của hoạt động điều tra tại hiện trường.