mở đầu vụ án hình sự, mở ra giai đoạn tiếp theo của quy trình tố tụng hình sự, đó là giai đoạn điều tra. Căn cứ ra quyết định khởi tố (hoặc không khởi tố) vụ án hình sự là các chứng cứ, thông tin thu thập được trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự và các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự. Quyết định khởi tố vụ án hình sự là cơ sở dé tiến hành các hoạt động tiếp theo trong quá trình tố tụng hình sự. Không có quyết định khởi tố vụ án hình sự, thì không có giai đoạn điều tra, không có giai đoạn truy tố và không có giai đoạn xét xử.
Thứ năm, trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát tham gia vào giai đoạn khởi tố vụ án hình sự ngay sau khi cơ quan có thâm quyền tiếp nhận thông tin về tội phạm. Trong một số trường hợp, Viện kiểm sát là cơ quan có thầm quyền tiếp nhận và giải quyết nguồn tin về tội phạm. Về nguyên tac, ngay sau khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, cơ quan có thầm quyền tiếp nhận và giải quyết nguồn về tội phạm phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiêm sát có thâm quyền. Trong trường hợp này, Viện kiểm sát tham gia vào giai đoạn khởi t6 vụ án hình sự với vai trò là cơ quan năm quyên công tố và cơ quan kiểm sát việc tuân thủ pháp luật.
Với vai trò là cơ quan nắm quyền công tố, Viện kiểm sát tham gia, phối hợp với cơ quan có thầm quyền nhằm xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm. Với vai trò là cơ quan kiểm sát việc tuân thủ pháp luật, Viện kiểm sát giám sát cơ quan có thẩm quyền trong quá trình thực hiện các hoạt động mà pháp luật quy định trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự. Với vai trò là cơ quan kiểm sát việc tuân thủ pháp luật, Viện kiêm sát có quyên nhac nhở cơ quan có thâm quyên trong việc tuân thủ 12 day đủ các quy định của pháp luật. Ngoài ra, Viện kiểm sát còn có quyền huỷ bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật được ban hành trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự.
Ví dụ, nếu xét thấy quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố không có căn cứ thì Viện kiểm sát có quyền huỷ bỏ quyết định này. Bên cạnh đó, Viện kiêm sát còn có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự (mặc dù trong trường hợp này Viện kiểm sát không phải là cơ quan giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố) nếu như Viện kiểm sát huỷ bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan có thầm quyền. Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đóng vai trò như là “cơ quan tài phán” giải quyết tranh chấp về thâm quyên giải quyết tin báo, tô giác tội phạm, kiến nghị khởi tố. Nghia là, trong trường hợp có tranh chấp về thầm quyền giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố giữa các cơ quan, Viện kiểm sát sẽ là cơ quan có thâm quyền xem xét và phán quyết xem cơ quan nảo là cơ quan có thâm quyền quyền giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố.
Đây là một vai trò, nhiệm vụ quan trọng của Viện kiểm sát, giúp cho giai đoạn khởi tố vụ án hình sự được thực hiện trơn tru, thuận lợi và nhanh chóng, tránh tình trạng đùn đây trách nhiệm cũng như tranh nhau giải quyết. Khái niệm và đặc điểm các hoạt động điều tra trong giai đoạn khới tố vụ án hình sự 1. Khái niệm hoạt động điều tra trong giai đoạn khởi td vu án hình sự Như ở phần trên đã phân tích, nhiệm vụ chính của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là xác định xem có (hay không có) dấu hiệu tội phạm để quyết định khởi tố (hoặc không khởi tố vụ án hình sự). Dé xác định được có (hay không có) dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thâm quyền phải thu thập, xác minh và đánh giá những thông tin nhất định.
Như vậy, thu thập, xác minh và đánh 13 giá thông tin là các hoạt động chính trong giai đoạn khởi tô. Bởi lẽ, các quy định của pháp luật thực định sẽ chỉ là những điều khoản vô tri, vô giác trên giấy trắng mực đen, mà không có sức sống thực tế nếu như không được đưa ra soi chiếu vào các thông tin thực tế. Như vậy, các quy định của pháp luật là điều kiện cần, còn thông tin là điều kiện đủ. Phải có cả điều kiện cần và điều kiện đủ thì cơ quan có thâm quyền mới xác định được có (hay không có) dấu hiệu tội phạm.
Dé có được thông tin, cơ quan có thâm quyền phải tiến hành một số hoạt động điều tra nhất định. Như vậy, hoạt động điều tra trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự được định nghĩa như sau: Hoạt động diéu tra trong giai đoạn khởi tô vụ án hình sự là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền nhằm thu thập, xác minh và đánh giá thông tin để xác định có (hay không có) dau hiệu của tội phạm dé làm căn cứ quyết định khởi tổ (hoặc không khởi tố) vụ án hình sự. Đặc diém của các hoạt động điều tra trong giai đoạn khởi tổ vụ án hình sự Hoạt động điều tra trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có một số đặc điểm sau đây: Thứ nhất, mục đích của hoạt động điều tra trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là xác định có (hay không có) dấu hiệu tội phạm. Nhu vậy, ở giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, cơ quan có thâm quyền chỉ cần thực hiện một số hoạt điều tra cần thiết để trả lời câu hỏi vụ việc có dấu hiệu tội phạm hay không dé làm cơ sở ra quyết định khởi tố (hoặc không khởi tố) vụ án hình sự.
Dé trả lời câu hỏi này, cơ quan có thâm quyền sẽ thu thập, xác minh và đánh giá thông tin đề làm rõ: Một là, có (hay không có) sự kiện được thông tin bởi người tổ giác tội phạm, người cung cấp tin báo về tội phạm, lời trình bày của người tự thú,. Nhiều trường hợp, người báo tin đưa ra tin giả hoặc người báo tin đã 14 hiểu sai diễn biến của sự việc, ví dụ: chủ sở hữu tài sản di dời tài sản ra khỏi nhà, và hiện trường xung quanh làm hàng xóm tưởng nhằm là tài sản của chủ sở hữu bị trộm cắp). Vì vậy, trách nhiệm của cơ quan có thâm quyền phải xác định có (hay không có) sự kiện xảy ra. Tiếp đến, cơ quan có thâm quyền phải xác định rõ bản chất của sự kiện đó có phải là một vụ việc vi phạm pháp luật hay không? Hai là, nêu có vi phạm thì hành vi vi phạm có cau thành tội phạm hay không? Đây là van dé mà cơ quan có thẩm quyền cần làm rõ dé phân định rõ giữa tội phạm với vi phạm hành chính hoặc vi phạm dân sự.
Ba là, ngoài các thông tin trên, cơ quan có thâm quyên cần thu thập, xác minh và đánh giá thông tin để làm rõ các vấn đề sau: (1) người có hành vi nguy hiểm cho xã hội đã đủ tuôi chịu trách nhiệm hình sự chưa; (2) đã có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thầm quyền về việc đình chỉ vụ án đối với hành vi phạm tội chưa; (3) đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa; (4) tội phạm đã được dai xá hay chưa; (5) người thực hiện tội phạm còn sống hay đã chết. Đây là những thông tin cũng rất quan trọng. Bởi vì, chỉ cần có một trong các căn cứ trên, cơ quan có thâm quyên sẽ ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Bốn là, đối với một số tội phạm, cơ quan có thâm quyên chỉ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự nếu có yêu cầu của người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại.
Vì vậy, trong những trường hợp này, cơ quan có thầm quyền cần phải xác định rõ người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại có yêu cầu khởi tố vụ án hình sự hay không? Nếu người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại không có yêu cau khởi tố vụ án hình sự thì cơ quan có thâm quyền không khởi tố vụ án hình sự. Như vậy, các hoạt động điều tra trong giai đoạn khởi tố cần được thiết kế ở mức phù hợp dé sao cho cơ quan có thâm quyền thu thập, xác minh và đánh giá được thông tin dé trả lời được các câu hỏi trên. Bởi lẽ, nếu hoạt động 15 điều tra trong giai đoạn khởi tổ không đủ thì co quan có thâm quyền không thé xác định được có dấu hiệu tội phạm hay không. Ngược lại, nếu trao quá nhiều hoạt động điều tra cho cơ quan có thẩm quyền trong giai đoạn khởi tố thì sẽ dẫn đến tạo sự trùng lặp giữa giai đoạn khởi tố vụ án hình sự với giai đoạn điều tra.
Hơn nữa, việc cơ quan có thầm quyền được thực hiện nhiều hoạt động điều tra không cần thiết có thể xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thé. Thứ hai, chủ thé có thầm quyên thực hiện hoạt động điều tra trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự bao gồm cơ quan điều tra và cơ quan được giao một số nhiệm vụ điều tra (gọi chung là cơ quan có thâm quyền điều tra). Hoạt động điều tra là hoạt động có tính chất nghiệp vụ, phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật và không được xâm phạm quyên và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Vì vậy, không phải cơ quan, tổ chức nào cũng có thể tiễn hành hoạt động điều tra.
Chỉ cơ quan có lực lượng nhân sự được đào tạo bài bản và kinh nghiệm về điều tra hình sự mới có thâm quyền tiến hành các hoạt động điều tra. Bởi vì, chỉ có những nhân sự được đảo tạo bài bản và kinh nghiệm về điều tra hình sự mới có nghiệp vụ điều tra, am hiểu tâm lý của những người tham gia tố tụng, am hiểu pháp luật, có kinh nghiệm và kỹ năng can thiết dé thu thập, khai thác và xử ly thông tin nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tô chức. Cơ quan điều tra là cơ quan có lực lượng nhân sự như vậy.