chương 1 Quyền công tố và THQCT là các khái niệm khác nhau. Nếu “quyền công tổ” là quyền nhân danh quyền lực công thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội thì THQCT thực chất là một hoạt động thực hiện pháp luật trong việc nhân danh Nhà nước truy tố người phạm tội và tội phạm ra trước Tòa án. Từ đó xác định: “7c hành quyên cong to trong giai doan khoi to vụ án hình sự là hoạt động của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi to vụ án hình sự thông qua việc sw dung tổng hop các quyên năng pháp lý thuộc nội dung của quyên công tô do nhà nước quy định dé xác định một sự việc có dấu hiệu tội phạm hay không được thực hiện ngay từ khi giải quyết tô giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi to và kết thúc khi cơ quan có thẩm quyên ra quyết định khỏi tô hoặc không khởi tô vụ án hình sự”. THQCT trong giai đoạn KTVAHS có một số đặc điểm sau: VKS là chủ thể duy nhất tiến hành THỌCT trong giai đoạn này với mục đích hướng xác định một sự việc có dấu hiệu tội phạm hay không dé làm căn cứ ra quyết định khởi tố hay không KTVAHS; hoạt động này thể hiện mối quan hệ gắn bó chặt chẽ vừa mang tính phối hợp, vừa mang tính chế ước của VKS với CQDT từ khi CQĐT tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; thê hiện băng su phối hợp trong từng chế định tô tụng hình sự và xuyên suốt toàn bộ quá trình kiểm tra, xác minh.
Phạm vi THQCT trong giai đoạn KTVAHS của VKSND bắt đầu từ khi Cơ quan có thâm quyền tiến hành tổ tụng tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm và kết thúc khi ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không KTVAHS và thông báo kết quả giải quyết theo quy định của BLTTHS. Với đặc điểm và phạm vi về THQCT trong giai đoạn KTVAHS của VKSND, nội dung của hoạt động này bao gồm: Phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của CQDT; Hủy bỏ các quyết định không có căn cứ hoặc trái pháp luật của CQDT; Đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh; Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; Yêu cầu CQDT khởi tố vụ hoặc thay đối, bổ sung quyết định KTVAHS; Quyết định việc gia 19 hạn thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; Trực tiếp khởi tố, thay đối, bỗ sung quyết định KTVAHS:. VKSND thực hành quyền công tố trong giai đoạn KTVAHS nhằm bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ich của Nhà nước, quyên và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Thông qua hoạt động THỌCT trong giai đoạn này sẽ giúp VKS đưa ra kết luận có hay tội phạm xảy ra hay không.
Và đây cũng là tiền đề quan trọng để đảm bảo hiệu qua cho việc THQCT trong các giai đoạn tiếp theo điều tra, truy tố và xét xử. 20 Chương 2 PHÁP LUẬT VE THỰC HANH QUYEN CÔNG TO TRONG GIAI DOAN KHOI TO VU AN HÌNH SU VÀ THỰC TIEN THI HANH 2. Pháp luật về thực hành quyền công tó trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự Ngày 01/01/2018, BLTTHS năm 2015 chính thức có hiệu lực, thay thế cho BLTTHS năm 2003. Các quy định của pháp luật về THỌCT trong giai đoạn KTVAHS cũng đã có sự thay đổi và quy định tại cụ thể hơn so với trước đây.
BLTTHS năm 2003 quy định quyền hạn và trách nhiệm của VKSND trong việc KTVAHS tại Điều 109 với ba điều khoản, kèm theo Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02/8/2013 hướng dẫn thi hành quy định của BLTTHS về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tổ (sau đây gọi là Thông tư 06/2013) quy định về THQCT và kiểm sát việc giải quyết tin báo, tô giác tội phạm và kiến nghị khởi tố tại Điều 12, Điều 13. Có thể thấy trước đây, quy định của pháp luật về THQCT trong giai đoạn KTVAHS còn chưa được chú trọng và quy định đầy đủ trong các văn bản pháp luật. Đến nay BLTTHS năm 2015 đã quy định cụ thể về THQCT trong giai đoạn KTVAHS tại các Điều 159 và khoản 1 Điều 161. THỌCT trong giai đoạn KTVAHS đã được chia thành: THQCT trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và THỌCT trong việc KTVAHS.
Hiện tại đã có một số văn bản hướng dẫn được ban hành như: Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT- VKSNDTC ngày 29/12/2017 của Bộ Công an — Bộ Quốc phòng — Bộ Tài chính — Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn — Viện kiểm sát nhân dân tôi cao quy định về phối hợp giữa các cơ quan có thâm quyền trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác tin báo về tội phạm , kiến nghị khởi tố (sau đây gọi là Thông tư 01/2017); Quy chế tạm thời Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra, truy tô (Ban hành kèm theo Quyết định số 03/OD — VKSTC ngày 29/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao) (sau đây gọi là Quy chế 03/2017); Quy chế tạm thời Công tác thực hành quyên công tô, kiêm sát việc tiép nhận, giải quyét tô giác, tin báo về tội 21 phạm, kiến nghị khởi tô (Ban hành kèm theo Quyết định số 169/OD-VKSTC ngày 02 tháng 5 năm 2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao) (sau đây gọi là Quy chế 169/2018). Quy định của pháp luật về thực hành quyén công tô trong việc giải quyết nguồn tin về toi phạm Theo quy định tại Điều 159 BLTTHS năm 2015, Viện kiểm sát khi THQCT trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm sẽ thực hiện các nhiệm vu, quyền hạn luật định và được thực hiện qua các hoạt động sau: - Phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của CQDT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiễn hành một số hoạt động điều tra; - Hủy bỏ các quyết định không có căn cứ hoặc trái pháp luật của CQDT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; - Dé ra yêu cầu kiểm tra, xác minh và yêu cầu các co quan có thẩm quyền thực hiện yêu cầu của VKS; - Trực tiếp giải quyết tô giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong các trường hợp do BLTTHS năm 2015 quy định; - Yêu cầu CQDT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiễn hành một số hoạt động điều tra KTVAHS hoặc trực tiếp quyết định KTVAHS; - Quyết định việc gia hạn thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; - Tiến hành một số hoạt động khác trong việc THQCT theo quy định của pháp luật. Phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của COPT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiễn hành một số hoại động điều tra Dé việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm của CQDT được thực hiện hiệu quả khi phát hiện các dấu hiệu tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội và nhằm đảm bảo vệc củng có, thu thập chứng cứ khởi tố vụ án, BLTTHS quy định CQDT và các Cơ quan được giao nhiệm vụ tiễn hành một số hoạt động điều tra được áp dụng các biện pháp ngăn chặn: giữ người trong trường hợp khẩn cấp; bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; tạm giữ và các biện pháp có tính chất 22 cưỡng chế khác (như khám xét người, khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện; thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử; thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại cơ quan, tô chức bưu chính, viễn thông bưu điện. VKSND thực hiện nhiệm vu, quyền hạn khi THỌCT trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong quá trình CQDT giải quyết nguồn tin về tội phạm là phê chuẩn hoặc không phê chuan các lệnh, quyết định này, cụ thé như sau: * Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cáp: Việc bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp được quy định khoản 4 Điều 110 BLTTHS năm 2015.
Day là một quy định mới của BLTTHS năm 2015 thay thé cho quy định về bắt người trong trường hop khan cấp quy định tại Điều 81 BLTTHS 2013. Việc bắt người bị giữ trong trường hợp khân cấp được thực hiện sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Theo đó khi xác định một trong các trường hợp khan cấp sau đây thì được giữ người: (1) có căn cứ dé xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; (2) người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn; (3) có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ Ÿ. Việc bắt người bị giữ trong trường hop khan cấp được thực hiện sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, theo quy định tại khoản 4 Điều 110 BLTHS năm 2015, VKS thực hành quyền công tố thông qua việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn Lệnh bắt người bị giữ trong trường hop khan cấp khi nhận được Lệnh này cùng các tài liệu có liên quan đến việc giữ người do CQDT gửi đến trong thời han 12 giờ ké từ khi bắt người tron trường hợp khan cấp.
Trong mọi trường hợp, việc bat người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải được báo ngay cho VKS cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu có liên quan đến việc giữ người dé VKS xét phê chuẩn. Trong mọi trường hợp thời hạn xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trườn hợp khẩn cấp của VKS phải thực hiện đúng theo quy định tại Khoản 6 Điều ! Xem Khoản | Điều 110 BLTTHS năm 2015. Nếu phải trực tiếp gặp hỏi người bị giữ trong trường hợp khân cấp hoặc trong trường hợp phải xét phê chuẩn bắt nhiều người cùng một thời điểm hoặc vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn này cũng không được quá 12 giờ, kế từ khi VKS nhận hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn. Thời han 12 giờ xét phê chuẩn được tính liên tục ké cả trong và ngoài giờ làm việc.