Chương 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE THUC HANH QUYEN CÔNG TO TRONG GIAI DOAN DIEU TRA VỤ ÁN HÌNH SU 1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vu án hình sự Vấn đề QCT và thực hành QCT trong những năm gần đây đã trở thành một van dé được nhiều nhà khoa học quan tâm, có nhiều công trình nghiên cứu ở những cấp độ khác nhau. Tuy nhiên, hiện nay vẫn tồn tại những quan điểm khác nhau về QCT cũng như thực hành QCT, gần với đó là những tranh luận về chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân. Có ý kiến cho rằng, VKS chỉ tập trung thực hiện tốt chức năng công tố; ý kiến khác cho rằng, VKS giữ nguyên chức năng thực hành QCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp như hiện nay; nhưng có ý kiến lại cho rằng, phải mở rộng nhiệm vụ của VKS hơn nữa, ngoài thực hành QCT phải mở rộng chức năng, nhiệm vụ thực hành QCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật như ngành Kiểm sát đã thực hiện từ những năm 1960 đến 2002.
Mặc dù có những quan điểm va cách lý giải khác nhau nhưng hau hết các quan điểm đều thừa nhận thực hành QCT là chức năng đặc biệt mà Dang và Nhà nước giao cho VKS. Dé làm rõ khái niệm thực hành QCT, trước tiên cần làm rõ khái niệm QCT. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Công tố là truy tố, buộc tội bị cáo và phát biéu ý kiến trước Tòa án, nhân danh Nhà nuéc”.’ Còn theo Từ điển Luật học: Công tố “là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.” * Về quan điểm khoa học, còn nhiều quan điểm khác nhau về QCT. Quan điểm thứ nhất cho rằng QCT là quyền đại diện cho Nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật.
> Quan điểm này cho răng, QCT xuất hiện từ khi có Nha nước và pháp luật, được thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, tô tụng hình sự và cùng với sự phát triển của xã hội, của các ngành luật, QCT được mở rộng sang lĩnh vực dan sự, tô tụng dân sự và tiếp tục mở rộng sang các lĩnh vực tô tụng tư pháp khác. Quan điểm này đã xác định phạm vi QCT quá rộng, đã đồng nhất QCT với với quyền hạn của VKS trong những lĩnh vực t6 tụng khác như dân sự, kinh tế và 3 Từ điển Tiếng Việt (2004), Nxb Đà Nẵng, tr. * Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Tir điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa — Nxb Tư pháp, tr. > Trường Cao dang kiểm sát, Giáo trình công tác kiểm sát phan chung (1996), NXB.
các hoạt động tư pháp khác, xóa nhòa ranh giới giữa tố tụng hình sự và các lĩnh vực tố tụng khác. Các lĩnh vực tố tụng khác như tổ tụng dân sự, tố tụng hành chính VKS chỉ kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia vào các hoạt động tô tụng đó. Quan điểm thứ hai cho rằng QCT là quyền Nhà nước giao cho VKS truy tố người phạm tội ra trước tòa án và thực hành việc buộc tội đó tại phiên tòa. 6 Quan diém nay nhắn mạnh vai trò duy nhất của VKS trong việc thực hiện QCT chỉ ở một lĩnh vực tố tụng hình sự và ở một giai đoạn duy nhất của tố tụng hình sự là giai đoạn xét xử sơ thâm.
Quan niệm như trên đã thu hẹp khái niệm, nội dung, phạm vi của QCT, không phản ánh được đầy đủ bản chất của quyền này, là đã đồng nhất việc thực hành QCT nói chung với việc thực hành QCT tại phiên tòa. Quan điểm thứ ba cho rằng QCT chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS trong tổ tụng hình sự. ’ Quan điểm này đã đánh đồng thực hành QCT với kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Vì vậy dẫn đến việc không xác định được hoạt động nào của VKS là để thực hiện chức năng thực hành QCT, hoạt động nào là dé thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự.
Quan điểm thứ tư cho răng QCT chỉ có trong t6 tụng hình sự và QCT là quyền của VKS nhân danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. ì Quan điểm thứ năm cho rằng QCT là quyền của cơ quan nhà nước được ủy quyền thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nhăm đưa người đó ra xét xử trước tòa án và đồng thời bảo vệ sự buộc tội đó”. Quan điểm này đã khang định được QCT là quyền của Nhà nước, chỉ có thé được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực pháp luật tố tụng hình sự, nó luôn gan liền với việc nhân danh Nhà nước (nhân danh công quyên) chống lại hình thức vi phạm pháp luật nghiêm trọng (tội phạm), và việc thực hiện quyền này sẽ được Nhà nước ủy quyền cho một cơ quan nhà nước thực hiện. 5 Võ Thọ (1985), Mét số van dé về Luật t6 tụng hình sự, Nxb Pháp lý, Hà Nội.
7 Lê Hữu Thể (2003), “VKSND với hoạt động thực hành QCT và kiểm sát hoạt động tư pháp”, Tap chí nghiên cứu lập pháp, Đặc san số 4/2003 chuyên dé cải cách tư pháp, tr. Š Hoàng Thị Sơn (2004), “Thực hiện QCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự của VKS”, Tap chí Luật học, (số đặc san tố tụng hình sự), tr. 10 Theo tác giả luận văn, dé xác định đúng đắn khái niệm về QCT cần phải làm rõ những vấn đề sau: - Chủ thé của quyền công tố Trong bất kỳ một xã hội có giai cấp nào, cũng tồn tại những mâu thuẫn mang tính giai cấp và có những hành vi đấu tranh giai cấp dưới các hình thức khác nhau, biểu hiện cụ thé là những hành vi vi phạm pháp luật chống lại ý chí giai cấp thống trị. Dé trừng trị người vi phạm pháp luật thì quyền tư pháp của Nhà nước cần được thực thi, “quyền tư pháp là quyền của Nhà nước, trong đó cơ quan nhà nước có thâm quyền xử lý các vụ việc vi phạm phạm luật bang cách áp dụng chế tài pháp lý đối với các vi phạm, qua đó thực thi công ly và bảo đảm pháp luật được thực thi.”"° Trong các hành vi vi phạm pháp luật thì nghiêm trọng nhất là hành vi vi phạm pháp luật hình sự, là tội phạm.
Đề pháp luật được tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh cần thiết phải sử dụng quyền lực nhà nước, nhân danh công quyền thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội. Điều đó có nghĩa là trong Nhà nước pháp quyền có tồn tại QCT'!. Như một lẽ tự nhiên muốn xử lý ai đó bắt buộc phải có sự buộc tội, và đó chính là QCT của Nhà nước. QCT xuất hiện từ khi có Nhà nước và pháp luật, nó luôn gắn liền với bản chất của Nhà nước và là một bộ phận không thé tách rời của công quyền.
QCT là một trong những quyền năng của nhà nước và “quyền có thé hiểu là năng lực riêng có của Nhà nước có thể tác động tới xã hội và buộc toàn thể xã hội phải phục tùng theo ý chí của mình, sự tác động mang tính bắt buộc đó được thực hiện qua cách thực được đặt tên là lập pháp, hành pháp và tư pháp. QCT được hiểu là một quyền lực công được bắt nguồn từ nhu cầu phải duy trì trật tự xã hội dé bảo vệ lợi ich của giai cấp thống trị và những lợi ích chung có liên quan mà nhà nước cần phải can thiệp duy trì vì đó là môi trường tồn tại của Nhà nước, là trách nhiệm xã hội của Nhà nước. Khi một hành vi bị coi là tội phạm được thực hiện sẽ làm phát sinh một loại quan hệ pháp luật giữa một bên là nhà nước và bên kia là người phạm tội. Trong quan hệ nay, nhà nước là chủ thé sử dụng quyền lực nhà nước, quyền lực công dé thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người !9 Tô Văn Hòa (2014) “Mối quan hệ giữa các cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp theo tinh thần Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013”, Tạpchí luật học, (9), tr.
„ Nguyễn Minh Đức (2012), “Quyền công tố và tổ chức thực hiện quyền công tố trong nhà nước pháp quyên”, Tap chí nghiên cứu lập pháp (1+2), tr. 11 phạm tội; còn người phạm tội là chủ thê bị truy cứu trách nhiệm hình sự và gánh chịu các chế tài hình sự do Nhà nước quy định và áp dụng. '° Nhà nước thực hiện QCT bằng cách ủy quyền cho cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện. Khi khăng định một QCT là quyền năng của nhà nước, gắn liền với nhà nước thì phải hiểu rằng nhà nước không phải tự mình thực hiện quyền năng đó mà “Nhà nước ủy quyền cho cơ quan cụ thê thực hiện quyền này trong bộ máy cơ quan nhà nước phân quyền hoặc phân công thực hiện chức năng'””.
Trên mỗi lĩnh vực quyền lực nhà nước cụ thé, Nhà nước tổ chức ra một hệ thống các cơ quan nhất định dé thực hiện quyền lực đó. Mỗi co quan Nha nước cần phải có một chức năng, nhiệm vụ riêng. Sự phân công càng rành mạch, cụ thể thì hiệu quả quản lý nhà nước sẽ đạt kết quả càng cao và phát huy cao độ vai trò của cơ quan đó trong từng lĩnh vực, từng ngành, từng cấp. Nếu không, sẽ xảy ra tình trạng là ở một lĩnh vực nào đó có nhiều cơ quan cùng làm dẫn đến sự chồng chéo, hoặc có lĩnh vực bị bỏ trồng, hoặc bị buông lỏng sự quản lý của Nhà nước dẫn đến sự vi phạm pháp luật, phá vỡ sự thống nhất trong quản lý nhà nước.mà không có một cơ quan nào chịu trách nhiệm.
Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền là Nhà nước mà quản lý nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân công rành mạch trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp dé thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động quyền lực nhăm hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền, xâm phạm tới lợi ích hợp pháp của công dân từ phía Nhà nước. 'Ÿ - Bản chất của QCT QCT có bản chất là quyền yêu cầu trừng trị công khai hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhất đó là tội phạm.