Tổng quan luận án
Công cuộc đổi mới đất nước và hoàn thiện hệ thống tư pháp tại Việt Nam đòi hỏi sự tăng cường đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm, đặc biệt là nhóm tội phạm về chức vụ. Trong nhóm này, tội Tham ô tài sản được xác định là loại tội phạm gây ra những tác động nghiêm trọng: làm suy yếu tính hiệu quả của bộ máy cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; làm giảm sút lòng tin của Nhân dân vào Nhà nước; trực tiếp xâm hại đến an ninh kinh tế và trật tự quản lý công. Theo số liệu của Cục Thống kê tội phạm – Viện kiểm sát nhân dân tối cao, từ năm 2013 đến năm 2022, các cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố mới 1.045 bị can; Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã truy tố và thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm 1.173 vụ án với 2.264 bị cáo về tội Tham ô tài sản.
Mặc dù hoạt động tư pháp đã đạt được nhiều kết quả nhằm bảo đảm việc xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, thực tiễn thực hành quyền công tố đối với tội danh này vẫn bộc lộ những hạn chế, thiếu sót:
- Vẫn còn tình trạng truy tố, xác định tội danh chưa chính xác;
- Tỷ lệ vụ án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng còn ở mức đáng kể;
- Một số vụ án bị Tòa án tuyên chuyển tội danh khác hoặc bị cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm tuyên hủy bản án để điều tra, xét xử lại;
- Kỹ năng đề ra yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên có thời điểm chưa sát thực tế; hoạt động thẩm vấn và tranh luận tại phiên tòa ở một số vụ án chưa đạt hiệu quả tối ưu.
Xuất phát từ các vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, đề tài luận án tiến sĩ "Thực hành quyền công tố đối với tội tham ô tài sản theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam" được nghiên cứu sinh Nguyễn Trương Đức Thắng thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự, mã số 9 38 01 04), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đỗ Đức Hồng Hà và TS. Đinh Xuân Nam.
Mục tiêu nghiên cứu
- Bổ sung, hoàn thiện và làm sâu sắc hơn hệ thống lý luận và cơ sở quy định pháp luật về thực hành quyền công tố đối với tội Tham ô tài sản.
- Đánh giá và đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành.
- Đề xuất các yêu cầu và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hành quyền công tố đối với tội Tham ô tài sản trên thực tế.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, tổng hợp và đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan ở trong và ngoài nước để xác định khoảng trống khoa học cần tiếp tục làm rõ.
- Hệ thống hóa, phân tích những vấn đề lý luận và cơ sở pháp lý về thực hành quyền công tố đối với tội Tham ô tài sản; làm rõ các luận cứ khoa học và những vấn đề cần chứng minh trong quá trình tố tụng.
- Khảo sát thực tế, phân tích thực trạng thực hành quyền công tố đối với tội Tham ô tài sản trong giai đoạn 2013 – 2022 trên phạm vi cả nước; chỉ rõ những kết quả đạt được, hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân của những tồn tại đó.
- Xác định các yêu cầu nền tảng và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố đối với tội Tham ô tài sản trong giai đoạn tiếp theo.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, quy định pháp luật tố tụng hình sự và thực tiễn hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân đối với tội Tham ô tài sản; các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động này.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân qua các giai đoạn tố tụng hình sự: từ tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm (tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố), khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử sơ thẩm vụ án tham ô tài sản. Luận án không nghiên cứu hoạt động thực hành quyền công tố của hệ thống Viện kiểm sát quân sự.
- Phạm vi không gian: Thực tiễn thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân các cấp trên phạm vi toàn quốc; tập trung khảo sát chuyên sâu tại các cơ quan tiến hành tố tụng cấp trung ương (Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao) và các địa phương trọng điểm: Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, tỉnh Lâm Đồng.
- Phạm vi thời gian: Số liệu và tư liệu thực tiễn được thu thập, xử lý và đánh giá trong mốc thời gian 10 năm, từ năm 2013 đến năm 2022.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tình hình nghiên cứu tại Chương 1 của luận án phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chức năng công tố, quyền công tố và việc xử lý tội phạm tham nhũng, tội phạm tham ô tài sản:
- Nghiên cứu quốc tế: Các tài liệu, công trình nghiên cứu nước ngoài tập trung vào mô hình công tố viện, chức năng buộc tội của công tố viên trong tố tụng tranh tụng hoặc thẩm vấn, cũng như các chuẩn mực quốc tế về phòng chống tham nhũng theo Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng (UNCAC).
- Nghiên cứu trong nước: Nhiều bài viết khoa học, giáo trình, đề tài nghiên cứu cấp bộ và luận văn, luận án đã tiếp cận quyền công tố dưới các góc độ:
- Khái niệm, bản chất của quyền công tố và mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố với kiểm sát hoạt động tư pháp;
- Hoạt động thực hành quyền công tố nói chung trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử;
- Cấu thành tội phạm và đường lối xử lý tội Tham ô tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Khoảng trống nghiên cứu và vị trí của luận án
Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu riêng lẻ về tội Tham ô tài sản dưới góc độ Luật Hình sự hoặc nghiên cứu về quyền công tố nói chung theo Luật Tố tụng hình sự, các công trình trước đây chưa giải quyết một cách toàn diện và chuyên sâu hoạt động thực hành quyền công tố gắn riêng với tội danh Tham ô tài sản theo khuôn khổ pháp lý mới (Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021).
Luận án định vị là công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên biệt về hoạt động thực hành quyền công tố đối với tội Tham ô tài sản, giải quyết đồng thời cả 3 khía cạnh: lý luận, cơ sở pháp lý và đánh giá thực tiễn qua chuỗi số liệu thống kê tư pháp đầy đủ trong 10 năm (2013 – 2022).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và hệ thống khái niệm
Luận án vận dụng lý luận của khoa học luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam, kết hợp các quy định pháp luật thực định. Hệ thống khái niệm nền tảng bao gồm:
| Khái niệm |
Định nghĩa xác lập trong luận án |
| Quyền công tố (QCT) |
Quyền của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thay mặt Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự, buộc tội đối với người phạm tội. Quyền này xuất hiện từ khi tội phạm xảy ra, thực hiện xuyên suốt qua các giai đoạn tố tụng và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc vụ án bị đình chỉ. |
| Thực hành quyền công tố (THQCT) |
Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự, buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội trong các giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. |
| THQCT đối với tội Tham ô tài sản |
Hoạt động của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự, buộc tội đối với người phạm tội Tham ô tài sản trong các giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án tham ô tài sản. |
| Đối tượng của THQCT tội Tham ô tài sản |
Là tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội tham ô tài sản mà hoạt động THQCT tác động vào nhằm đạt mục đích truy cứu trách nhiệm hình sự, buộc tội đúng quy định pháp luật. |
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp luận: Dựa trên phép biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các chủ trương, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp và công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể áp dụng theo từng nội dung:
- Chương 1: Phương pháp hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp, so sánh để đánh giá các tài liệu, công trình nghiên cứu đi trước.
- Chương 2: Phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp để làm rõ các yếu tố lý luận, bản chất quyền công tố, dấu hiệu pháp lý và những vấn đề cần chứng minh đối với tội Tham ô tài sản.
- Chương 3: Phương pháp thống kê tội phạm, phân tích số liệu, khảo sát thực tiễn, phân tích tình huống thực tế, trao đổi và lấy ý kiến chuyên gia (Kiểm sát viên có kinh nghiệm) nhằm đánh giá thực trạng xử lý án tại Viện kiểm sát các cấp.
- Chương 4: Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và diễn giải để xây dựng các yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao năng lực thực hành quyền công tố.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Tương trợ tư pháp và các văn bản hướng dẫn áp dụng.
- Dữ liệu thống kê nghiệp vụ: Số liệu của Cục Thống kê tội phạm - Viện kiểm sát nhân dân tối cao giai đoạn 2013 – 2022.
- Hồ sơ án và báo cáo tổng kết thực tiễn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các cơ quan tiến hành tố tụng tại Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và tỉnh Lâm Đồng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này điểm lại có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến quyền công tố, chức năng công tố và tội phạm tham nhũng/tham ô tài sản. Trên cơ sở phân tích những kết quả đã đạt được của các học giả đi trước, chương 1 xác định:
- Các nghiên cứu trước chủ yếu tiếp cận quyền công tố ở phạm vi khái quát chung hoặc nghiên cứu tội Tham ô tài sản thuần túy dưới góc độ định tội danh trong luật hình sự;
- Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện, độc lập và chuyên sâu về hoạt động thực hành quyền công tố đối với tội Tham ô tài sản theo các quy định của Bộ luật Hình sự 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 trong bối cảnh cải cách tư pháp giai đoạn 2013 – 2022;
- Xác định rõ các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu làm kim chỉ nam cho các chương tiếp theo.
Chương 2: Những vấn đề lý luận và pháp luật về thực hành quyền công tố đối với tội Tham ô tài sản
Chương 2 làm sáng tỏ các vấn đề lý luận nền tảng và khung pháp lý thực định:
- Lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố: Phân định rõ phạm vi không gian (chỉ tồn tại trong tố tụng hình sự) và phạm vi thời gian (từ khi tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm đến khi bản án có hiệu lực pháp luật); xác định chủ thể duy nhất thực hiện chức năng này tại Việt Nam là Viện kiểm sát nhân dân.
- Những vấn đề phải chứng minh đối với tội Tham ô tài sản:
- Xác định có hành vi tham ô xảy ra hay không; thời gian, địa điểm; đơn vị bị thiệt hại; giá trị tài sản bị chiếm đoạt và đường đi/dòng lưu thông của tài sản;
- Chủ thể thực hiện hành vi: chức vụ, quyền hạn, trách nhiệm quản lý tài sản; các yếu tố đồng phạm, phân hóa vai trò và mức độ hưởng lợi;
- Thủ đoạn thực hiện tội phạm: lập khống hóa đơn, giả mạo chứng từ, sai lệch hợp đồng mua bán, biên bản nghiệm thu; các hành vi che giấu, tẩu tán tài sản;
- Các tình tiết định khung tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân người phạm tội;
- Mức độ thiệt hại cụ thể và các dấu hiệu định khung đặc thù (chiếm đoạt tài sản an sinh xã hội, quỹ xóa đói giảm nghèo, tiền hỗ trợ vùng thiên tai, dịch bệnh; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự; dẫn đến phá sản doanh nghiệp...);
- Nguyên nhân, điều kiện phạm tội và các tình tiết loại trừ hoặc miễn trách nhiệm hình sự.
- Quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành: Hệ thống hóa thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong từng giai đoạn tố tụng cụ thể đối với vụ án tham ô tài sản.
Chương 3: Thực trạng thực hành quyền công tố đối với tội Tham ô tài sản
Chương 3 tập trung phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật dựa trên hệ thống số liệu thống kê tư pháp 10 năm (2013 – 2022):
- Khái quát tình hình tội phạm: Tội phạm Tham ô tài sản diễn biến phức tạp, xảy ra ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội với thủ đoạn ngày càng tinh vi; quy mô tài sản bị chiếm đoạt lớn; có sự câu kết chặt chẽ giữa người có chức vụ quyền hạn với các đối tượng bên ngoài.
- Kết quả thực hành quyền công tố: Viện kiểm sát các cấp đã thụ lý, phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn, kiểm sát điều tra và truy tố đưa ra xét xử 1.173 vụ án / 2.264 bị cáo. Đa số các vụ án được xét xử đúng người, đúng tội, bảo đảm tính nghiêm minh.
- Hệ thống dữ liệu thống kê qua các bảng và biểu đồ phụ lục:
- Số vụ án và bị can do Cơ quan điều tra khởi tố, đề nghị truy tố, đình chỉ, tạm đình chỉ;
- Tỷ lệ Viện kiểm sát truy tố, đình chỉ, tạm đình chỉ, quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung;
- Kết quả xét xử của Tòa án nhân dân, các trường hợp Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung hoặc thay đổi tội danh;
- Thống kê chuyên biệt các vụ án do Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố, Viện kiểm sát nhân dân tối cao truy tố và phân công cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử;
- Thống kê chi tiết tình hình án tham ô tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và tỉnh Lâm Đồng.
- Hạn chế, thiếu sót:
- Vẫn còn trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng do chưa thu thập đầy đủ chứng cứ ngay từ giai đoạn điều tra;
- Một số vụ án có sự thay đổi tội danh hoặc bản án bị cấp trên hủy để điều tra, xét xử lại;
- Kỹ năng xây dựng bản yêu cầu điều tra chưa thật sự sắc bén, việc thu hồi tài sản bị chiếm đoạt còn gặp khó khăn.
- Nguyên nhân của hạn chế: Do tính chất phức tạp, tinh vi của tội phạm chức vụ; vướng mắc trong một số quy định pháp luật tố tụng và giám định tư pháp; năng lực, kinh nghiệm thực tế của một bộ phận Kiểm sát viên còn chưa đồng đều; công tác phối hợp liên ngành có lúc chưa kịp thời.
Chương 4: Yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố đối với tội Tham ô tài sản trong thời gian tới
Chương 4 xác định các yêu cầu có tính nguyên tắc và nhóm giải pháp cụ thể:
- Các yêu cầu bảo đảm nâng cao chất lượng:
- Tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và các nguyên tắc tố tụng hình sự;
- Bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp;
- Gắn chặt hoạt động công tố với hoạt động điều tra, phát hiện tội phạm kịp thời, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội;
- Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động tranh tụng tại phiên tòa.
- Các nhóm giải pháp đề xuất:
- Hoàn thiện pháp luật: Sửa đổi, bổ sung các điều luật liên quan trong Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tương trợ tư pháp và các văn bản hướng dẫn về giám định tư pháp, định giá tài sản, biện pháp thu hồi tài sản tham nhũng;
- Nâng cao năng lực cán bộ: Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng chuyên sâu cho Kiểm sát viên về phương pháp thu thập chứng cứ, kỹ năng lập bản yêu cầu điều tra, kỹ năng xét hỏi và tranh tụng đối với tội phạm tham nhũng;
- Tăng cường cơ chế phối hợp: Đẩy mạnh phối hợp liên ngành giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan thanh tra và Kiểm toán Nhà nước trong việc phát hiện, xử lý tội Tham ô tài sản.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống khái niệm chuyên sâu: Quyền công tố, Thực hành quyền công tố và Thực hành quyền công tố đối với tội Tham ô tài sản trong tố tụng hình sự.
- Luận giải rõ ràng đối tượng, phạm vi không gian, thời gian và bản chất của hoạt động thực hành quyền công tố đối với tội Tham ô tài sản.
- Hệ thống hóa đầy đủ các nội dung, cấu phần chứng cứ và những vấn đề bắt buộc phải chứng minh trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án tham ô tài sản.
- Nhận diện và phân tích có cơ sở khoa học về các yếu tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến chất lượng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp
- Đánh giá bức tranh thực tế 10 năm (2013 – 2022) về thực hành quyền công tố đối với tội Tham ô tài sản ở cấp trung ương và các địa phương trọng điểm (Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Lâm Đồng).
- Nhận diện đúng các hạn chế, vướng mắc thực tế như: tỷ lệ trả hồ sơ điều tra bổ sung, vướng mắc trong định giá tài sản, thay đổi tội danh, hủy án.
- Cung cấp luận cứ thực tiễn cho việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tương trợ tư pháp và ban hành các văn bản hướng dẫn liên ngành.
- Đề xuất hệ thống giải pháp mang tính khả thi nhằm nâng cao kỹ năng nghiệp vụ của Kiểm sát viên trong việc đề ra yêu cầu điều tra và tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung nghiên cứu trong phạm vi hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, không bao gồm hoạt động thực hành quyền công tố của hệ thống Viện kiểm sát quân sự. Về địa bàn thực tế, luận án tập trung dữ liệu chi tiết tại trung ương và 3 địa phương điển hình (TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Lâm Đồng).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh hoạt động thực hành quyền công tố đối với tội Tham ô tài sản trong các cơ quan tư pháp quân sự; nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế thu hồi tài sản tham ô có yếu tố nước ngoài thông qua tương trợ tư pháp quốc tế; nghiên cứu mở rộng đối với các tội phạm chức vụ khác trong Bộ luật Hình sự.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Luận án là tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Luật tại các trường đại học, viện nghiên cứu pháp lý, đặc biệt là các chuyên đề về Luật Tố tụng hình sự và Kỹ năng kiểm sát.
- Đối với cơ quan thực tiễn: Là nguồn tư liệu phục vụ việc bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán; hỗ trợ Kiểm sát viên nắm vững quy trình xác định những vấn đề phải chứng minh khi giải quyết các vụ án tham ô tài sản.
- Đối với công tác lập pháp: Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn áp dụng.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định phạm vi thời gian thực hiện quyền công tố kéo dài trong giai đoạn nào?
Theo luận án, quyền công tố bắt đầu từ khi giải quyết nguồn tin về tội phạm (tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố) và tiếp diễn trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đến khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc vụ án bị đình chỉ theo luật định.
2. Số lượng bị can khởi tố mới về tội Tham ô tài sản trong giai đoạn 2013 – 2022 được luận án công bố là bao nhiêu?
Theo số liệu từ Cục Thống kê tội phạm – Viện kiểm sát nhân dân tối cao được luận án trích xuất, trong giai đoạn 2013 – 2022, các cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố mới 1.045 bị can về tội Tham ô tài sản; Viện kiểm sát nhân dân đã truy tố và thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm 1.173 vụ án với 2.264 bị cáo.
3. Trong vụ án tham ô tài sản, Kiểm sát viên cần tập trung chứng minh những vấn đề cốt lõi nào?
Kiểm sát viên cần chứng minh: có hành vi chiếm đoạt thực tế xảy ra hay không; giá trị tài sản và đường đi của tài sản; chức vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý tài sản của chủ thể; thủ đoạn phạm tội (lập khống chứng từ, hợp đồng, hóa đơn...); yếu tố đồng phạm; động cơ, mục đích; mức độ thiệt hại và các tình tiết định khung tăng nặng/giảm nhẹ.
4. Những địa phương nào được luận án lựa chọn khảo sát thực tế chuyên sâu?
Bên cạnh số liệu toàn quốc và các vụ án do Bộ Công an cùng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xử lý, luận án tập trung khảo sát thực tiễn tại 3 địa phương: Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và tỉnh Lâm Đồng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Trương Đức Thắng đã hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố đối với tội Tham ô tài sản theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Dựa trên nguồn số liệu thống kê tư pháp thực tế giai đoạn 2013 – 2022, công trình đã phân tích thực trạng xử lý án, chỉ rõ các hạn chế trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và nguyên nhân của những tồn tại đó. Các giải pháp được luận án đề xuất có tính khả thi, góp phần hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm tham ô tài sản.