Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA BỊ CAN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Những vấn đề lý luận về quyền của bị can trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm, đặc điểm quyền của bị can trong tố tụng hình sự Theo tố tụng hình sự Việt Nam, bị can được định nghĩa tại Điều 60 BLTTHS năm 2015: “Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự”. Điều 60 BLTTHS năm 2015 nằm trong Chương IV quy định về “Người tham gia tố tụng”.
Theo điều luật trên, bị can có thể là người, tức là một cá nhân cụ thể; bị can cũng có thể là một tổ chức có đủ các điều kiện được công nhận là pháp nhân thương mại theo quy định tại Điều 74 và 75 BLDS năm 2015 [19]. Như vậy hiểu theo nghĩa rộng, trong BLTTHS năm 2015, người tham gia tố tụng không chỉ bao gồm “người” mà còn bao gồm cả “pháp nhân”. Khởi tố về hình sự nói chung được hiểu là một hoạt động mà từ đó, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng theo nhiệm vụ và quyền hạn của mình, được phép thực hiện, áp dụng các thủ tục, các biện pháp tố tụng theo BLTTHS quy định nhằm phát hiện, chứng minh và xử lý các hành vi mà BLHS quy định là tội phạm và người đã thực hiện các hành vi đó. Như vậy có thể thấy, khởi tố về hình sự gồm có hai đối tượng, đó là hành vi và chủ thể thực hiện hành vi, tương ứng với hai hoạt động khởi tố trong BLTTHS của Việt Nam là khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can.
Đối tượng của hoạt động khởi tố vụ án hình sự là hành vi nguy hiểm cho xã hội, còn đối với bị can khi bị khởi tố, đối tượng của hoạt động khởi tố này chính là một thể nhân - là một người, hoặc là một pháp nhân thương mại. Nếu như việc khởi tố vụ án hình sự căn cứ vào việc có hay không dấu hiệu của tội phạm (bao gồm tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự và tính phải chịu hình phạt) thì khởi tố bị can còn căn cứ vào năng lực chịu trách nhiệm hình sự của người và điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thực hiện 7 luan an hành vi nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, nếu một người thực hiện hành vi phạm tội khi đang trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc người đó chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; hay một pháp nhân thực hiện hành vi phạm tội mà không có đủ các điều kiện trong BLHS quy định thì người hoặc pháp nhân đó không phải chịu trách nhiệm hình sự, do vậy cũng không thể ra quyết định khởi tố bị can đối với người hoặc pháp nhân đó. Như vậy, có thể hiểu: “Bị can là tư cách pháp lý của người hoặc pháp nhân đã bị khởi tố về hình sự cho tới khi bị Tòa án đưa ra xét xử hoặc khi có quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật”.
Sau khi một người hoặc một pháp nhân bị Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát khởi tố bị can, họ sẽ trở thành một trong những người tham gia tố tụng theo BLTTHS quy định. Với tư cách là một chủ thể của luật tố tụng hình sự, bị can sẽ đồng thời bị tước đi một số quyền và cùng được phát sinh một số quyền mà chỉ bị can mới có. Khi đã bị khởi tố bị can, những hậu quả pháp lý đầu tiên mà người hoặc pháp nhân bị khởi tố phải chịu đó là bị tước đi một số quyền cơ bản của công dân, tổ chức mà Hiến pháp và pháp luật quy định. Tuy nhiên, việc hạn chế một số quyền của bị can không đồng nghĩa với việc quyền con người, quyền công dân của bị can bị xâm phạm bởi lẽ những quyền mới được BLTTHS quy định riêng cho bị can chính nhằm đảm bảo cho các quyền và lợi ích hợp pháp còn lại của bị can được bảo vệ.
BLTTHS cũng như nhiều văn bản pháp luật tố tụng hình sự khác có liên quan ra đời với mục đích bảo vệ các quyền của con người, quyền của công dân. Đây cũng là nguyên tắc cơ bản được cụ thể hóa tại Điều 8 BLTTHS: “Khi tiến hành tố tụng, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, người tiến hành tố tụng phải tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân. Bị can dù là người bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng với tư cách là một chủ thể của hoạt động tố tụng hình sự, họ vẫn được pháp luật tố tụng hình sự và các pháp luật có liên quan bảo vệ, bảo đảm công bằng đối với những lợi ích chính đáng của mình. Trong bất cứ giai đoạn nào của tố tụng hình sự đối 8 luan an với bị can, mọi hành vi vi phạm quyền của bị can của bất cứ cơ quan tiến hành tố tụng nào đều bị coi là vi phạm pháp luật tố tụng hình sự.
Theo Từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý, Bộ tư pháp thì, quyền là khái niệm khoa học pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế [34]. Qua khái niệm này có thể thấy: Quyền phải được ghi nhận về mặt pháp lý và phải được bảo đảm thực hiện bởi các quy định của pháp luật; phải có sự thừa nhận về mặt xã hội và gắn liền với chủ thể. Bị can trước hết là con người, là công dân có đầy đủ mọi quyền và nghĩa vụ được hiến pháp công nhận và bảo vệ, nhưng kể từ khi phát sinh sự kiện pháp lý và được điều chỉnh bằng các hoạt động tố tụng và khi bị khởi tố về hình sự thì họ là bị can. Khi bị buộc tội thì bị can vẫn có những quyền được pháp luật trao cho được hưởng, được làm và được đòi hỏi.
Trong thời gian bị buộc tội, họ là những người tham gia tố tụng, chịu sự điều chỉnh của pháp luật tố tụng trong các quan hệ pháp luật giữa họ với cơ quan, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng khác [10, tr. Do vậy, có thể định nghĩa: “Quyền của bị can là những quy định của pháp luật cho phép người hoặc pháp nhân bị khởi tố bị can được thực hiện và được Nhà nước đảm bảo thực hiện xuyên suốt những hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, của các cơ quan, tổ chức xã hội và những người tham gia tố tụng khác”. Những quy định mà pháp luật cho phép bị can thực hiện là những việc mà bị can được phép làm, được hưởng, được đòi hỏi để thực hiện những việc đó. Đồng thời, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải thực hiện nghiêm túc các quy định về quyền của bị can bởi nếu không như vậy, cơ quan, người tiến hành tố tụng sẽ vừa xâm phạm tới quyền của bị can, vừa xâm phạm tới hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự.
9 luan an Qua định nghĩa “quyền của bị can” nêu trên, có thể thấy quyền của bị can có các đặc điểm sau: Thứ nhất, quyền của bị can chỉ phát sinh khi có quyết định khởi tố bị can của cơ quan có thẩm quyền ban hành đối với một người hoặc một pháp nhân. Bị can có một số quyền cơ bản của con người, của công dân, trong số đó cũng có những quyền giống với quyền của một số chủ thể tham gia tố tụng hình sự khác. Bên cạnh đó, bị can có những quyền đặc thù của riêng chủ thể này mà những người tham gia tố tụng hình sự khác, những cá nhân, tổ chức bình thường không có. Thứ hai, quyền của bị can được quy phạm hóa, cụ thể hóa bằng các quy định trong BLTTHS, trong các văn bản pháp luật có liên quan và được Nhà nước bảo đảm thực hiện.
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, giữa Nhà nước và công dân tồn tại mối quan hệ bình đẳng trên cơ sở pháp luật. Quyền và nghĩa vụ của Nhà nước và công dân đều được quy định rõ ràng, công khai, minh bạch bằng pháp luật. Thông qua pháp luật, Nhà nước và công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Công dân có trách nhiệm tuân thủ pháp luật, không làm những điều pháp luật cấm, không thực hiện những hành vi bị coi là tội phạm.
Khi công dân vi phạm pháp luật, Nhà nước có quyền áp dụng hình phạt đối với những công dân đó. Ngược lại, Nhà nước cũng có trách nhiệm bảo vệ những quyền chính đáng của công dân. Bị can cũng được Nhà nước bảo đảm những quyền chính đáng mà bị can được thực hiện trong quá trình tố tụng hình sự. Cơ sở của việc quy định quyền của bị can trong tố tụng hình sự Khởi tố bị can là hoạt động tố tụng do Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát thực hiện bằng cách đưa ra quyết định khởi tố bị can bằng văn bản chứ không phải bất kỳ hình thức nào khác.
Quyết định khởi tố bị can là văn bản pháp lý đặt ra cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế và các biện pháp điều tra cần thiết đối với người hoặc pháp nhân bị khởi tố. Những cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng áp dụng 10 luan an các biện pháp này trái pháp luật thì sẽ xâm phạm tới các quyền hợp pháp của bị can. Bị can bao gồm chủ thể là người và pháp nhân, và việc bảo đảm các quyền lợi cho con người đang ngày càng được các quốc gia chú trọng. Chính vì vậy có thể khẳng định, quyền con người chính là cơ sở trọng tâm nhất trong việc đặt ra quy định về quyền của bị can.
Hơn bao giờ hết, quyền con người và quyền công dân là những trọng tâm hàng đầu trong việc xây dựng pháp luật. Ở rất nhiều quốc gia, việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật xoay quanh việc bảo vệ con người. Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế đều là những mục tiêu, là bước đi mà nhiều quốc gia chú trọng, trong đó có Việt Nam. Bước vào tiến trình hội nhập quốc tế, đứng trước những biến đổi to lớn, sâu sắc và phức tạp của đất nước, Hiến pháp năm 2013 đã được thông qua.