CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG VỤ ÁN HỦY HOẠI RỪNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 1. Khái niệm quyền công tố Quyền công tố là một phạm trù lịch sử, là sản phẩm của xã hội loài người khi phát triển đến một giai đoạn nhất định, quyền công tố xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước. Trên thế giới, do có sự khác biệt về thể chế chính trị và các điều kiện lịch sử, truyền thống văn hóa, tôn giáo .nên chế định công tố cũng có sự khác biệt nhất định trong cơ chế vận hành, song quá trình diễn biến của nó vẫn thể hiện rõ quy luật tất yếu chung của sự phát triển lịch sử.
Đó là quyền công tố luôn luôn gắn liền với bản chất của Nhà nước và là một bộ phận cấu thành không thể tách rời khỏi Nhà nước. Theo từ điển Tiếng Việt, "công" có nghĩa là "thuộc về nhà nước, thuộc về tập thể, trái với tư", còn "tố" nghĩa là "nói về sự sai phạm và tội lỗi của người khác một cách công khai, trước người có thẩm quyền", còn "công tố" nghĩa là "điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước tòa án" [53, tr.1056]; hiểu theo thuật ngữ pháp lý phổ thông: Hoạt động của Kiểm sát viên và những người khác theo quy định của pháp luật có nhiệm vụ vạch mặt kẻ phạm tội, xác định các căn cứ để kết tội và để áp dụng hình phạt đối với người phạm tội … Như vậy, công tố có mối liên hệ chặt chẽ với pháp luật, đặc biệt là pháp luật hình sự. Bất kỳ Nhà nước nào ở thế chế chính trị nào cũng quan tâm đến lĩnh vực hình sự, bởi vì chính pháp luật hình sự là phương tiện để cai trị hữu hiệu nhất của Nhà nước. Bởi khi một hành vi bị coi là tội 9 phạm nó sẽ làm phát sinh một mối quan hệ pháp luật giữa một bên là Nhà nước và phía bên kia là người phạm tội.
Trong mối quan hệ này, Nhà nước chính là chủ thể quyền lực (quyền lực công) và là người thực hiện sự buộc tội, còn đối tượng bị nhà nước cáo buộc chính là người đã thực hiện hành vi phạm tội. Công tố, chính vì thế được hiểu là sự buộc tội thay mặt cho Nhà nước đối với người đã thực hiện hành vi bị coi là phạm tội trước Tòa án để xét xử một người là có tội hay không có tội và hình phạt áp dụng. Quyền công tố và thực hành quyền công tố là hai khái niệm điển hình trong LTTHS ở nước ta khi nói đến chức năng của VKS. Đối với khoa học tố tụng hình sự, việc xác định khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng.
Nhất là, trong giai đoạn hiện nay, việc giải quyết tốt vấn đề này giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí của VKS nói chung và các cơ quan tư pháp nói riêng; xác định được chức năng của VKS; từ đó có những quyết định đúng đắn về tổ chức của VKS. Ngoài ra, việc giải quyết những vấn đề quyền công tố và thực hành quyền công tố giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí cũng như trách nhiệm của VKS trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Có nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố như: Quan điểm thứ nhất: Công tố không phải là chức năng độc lập của VKS mà chỉ là hình thức để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật [11]. Theo tác giả đây là hai dạng hoạt động có nội dung hoàn toàn độc lập với nhau.
Quan điểm thứ hai: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, thi hành án hình sự người phạm tội [52,tr. Đó là hoạt động của ĐTV, KSV và những người khác được pháp luật quy định có trách nhiệm xác định 10 người phạm tội cũng như các căn cứ để kết tội và áp dụng các hình phạt đối với người phạm tội. Quan điểm này, không chỉ có VKS, CQĐT mà cả Tòa án, Cơ quan thi hành án hình sự đều là chủ thể thực hành quyền công tố. Quan điểm thứ ba: Quyền công tố là quyền của Nhà nước đưa các việc làm phạm pháp liên quan đến lợi ích chung ra Tòa án xét xử vì Nhà nước nhân danh xã hội duy trì trật tự chung bằng pháp luật.
Sự can thiệp của Nhà nước vào các việc phạm pháp nói trên là do nhu cầu duy trì mọi xung đột xã hội gắn với trật tự công cộng mà trách nhiệm của Nhà nước phải đứng ra điều hòa - đó là bản chất của quyền lực công. Quyền công tố là quyền lực công, đòi hỏi phải xử lý các vụ việc xâm phạm lợi ích chung một cách công khai bằng con đường Tòa án, vì thế quyền công tố thường gắn liền với quyền tài phán của Tòa án [33]. Theo quan điểm này, phạm vi hoạt động của quyền công tố là quá rộng, chưa phù hợp với thực tiễn là phải coi trọng quyền quyết định và tự định đoạt của công dân trong lĩnh vực dân sự, kinh tế, lao động. Thời gian gần đây, các công trình nghiên cứu về quyền công tố, quy định tại BLTTHS năm 2003 và đặc biệt là BLTTHS năm 2015 đã tiếp cận gần hơn, rõ ràng và chính xác với quan niệm chung về quyền công tố.
Tác giả đồng tình với quan điểm của TS. Lê Hữu Thể: Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền công tố được thực hiện bởi một cơ quan nhất định (ở nước ta là VKS), có trách nhiệm đảm bảo việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội trên cơ sở đó quyết định việc truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử bằng bản cáo trạng và thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa. Vì vậy quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự với đối tượng tội phạm và người phạm tội [26, tr40].
Khái niệm thực hành quyền công tố Văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta đưa ra thuật ngữ "thực hành 11 quyền công tố" là Hiến pháp năm 1980, tại Điều 138, khi xác định chức năng của VKS. Thuật ngữ ngữ này cũng được nhắc lại ở Điều 1 và Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 1980. Như vậy, trong hoạt động của VKSND, bên cạnh khái niệm "kiểm sát việc tuân theo pháp luật" có khái niệm "thực hành quyền công tố". Quy định này cũng được nhắc lại trong Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2013.
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND thì các văn bản tố tụng hình sự khác cũng có quy định tương tự. Theo từ điển Tiếng Việt thì "thực hành" có nghĩa là "làm để áp dụng lý thuyết vào thực tiễn", "thực hành" đồng nghĩa với "thực hiện" [31]. Để thực hiện quyền công tố thì VKS phải sử dụng tất cả những quyền năng tố tụng nhằm bảo đảm phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Do đó, tác giả thống nhất với quan điểm cho rằng: "Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử".
Nội dung quyền công tố là sự buộc tội của Nhà nước đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội [32]. Cách hiểu về khái niệm thực hành quyền công tố nêu trên cũng là cách hiểu được thể hiện tại khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đó là: "Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự"[20,tr. Khái niệm vụ án hủy hoại rừng Để làm rõ khái niệm vụ án hủy hoại rừng, cần làm rõ thuật ngữ "hủy 12 hoại rừng". Thuật ngữ "hủy hoại" theo từ điển Từ và ngữ Việt Nam của tác giả Nguyễn Lân [16], từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thì có nghĩa là làm cho hư hỏng đi, phá đi, cho tan nát.
Để hiểu như thế nào là hủy hoại rừng, cần làm rõ khái niệm "hủy hoại tài sản", bởi rừng củng được xem là một loại tài sản theo quy định của pháp luật nước ta. Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Trường đại học luật Hà Nội, định nghĩa "hủy hoại tài sản" là cố ý làm cho tài sản mất giá trị sử dụng ở mức độ không còn hoặc khó có khả năng khôi phục lại được. Hủy hoại tài sản có thể qua hành động (đập, đốt.) hoặc không hành động (cố ý không tắt máy, không ngắt điện khi có sự cố dẫn đến máy bị hư hỏng hoàn toàn. Theo đó "hủy hoại rừng" là cố ý làm hư hỏng tài nguyên rừng, dẫn tới cây rừng bị hủy hoại, bị chết hàng loạt.
Hành vi hủy hoại rừng là những hành vi cố ý đốt, phá rừng trái phép hoặc có những hành vi khác làm cho rừng tan nát, hư hỏng và cây rừng chết hành loạt. Trong khoa học pháp lý hình sự "tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật và phải chịu hình phạt". Dựa trên khái niệm trên, có thể đưa ra khái niệm về tội hủy hoại rừng như sau "Tội hủy hoại rừng là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do cá nhân hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý như đốt, phá rừng trái phép hoặc hành vi khác, làm cho rừng mất hoàn toàn hoặc giảm một cách đáng kể giá trị, xâm phạm các quan hệ xã hội về bảo vệ rừng của Nhà nước, gây thiệt hại cho môi trường sinh thái, được quy định trong Bộ luật hình sự và phải chịu hình phạt".