Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUỒN CHỨNG CỨ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Lý luận chung về nguồn chứng cứ 1. Nhận thức về nguồn chứng cứ Để nhận thức được về các sự vật, hiện tượng nói chung và nhận thức về nguồn chứng cứ nói riêng, con người phải dựa vào cơ sở phương pháp luận nhất định. Trong lịch sử nhân loại đã từng có các quan điểm khác nhau về nguồn chứng cứ trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, đã từng tồn tại các quan điểm phi mác xít về vấn đề này như các quan điểm thần học, tôn giáo, quan điểm hình thức, quan điểm nhân chủng học, quan điểm niềm tin nội tâm của Thẩm phán… Lịch sử đã chứng minh để nhận thức được chính xác các sự vật, hiện tượng, con người cần dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, dựa trên phương pháp biện chứng khoa học, việc nhận thức về nguồn chứng cứ trong các vụ án hình sự cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Lý luận của chủ nghĩa DVBC về nhận thức thế giới được sử dụng như là cơ sở khoa học của nguồn chứng cứ và việc chứng minh thông qua những quan điểm cơ bản sau: Thứ nhất, vụ án hình sự được phản ánh bởi con người và các vật. Chủ nghĩa DVBC đã chỉ ra rằng phản ánh là thuộc tính của vật chất. Mọi sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan luôn tồn tại trong mối quan hệ qua lại và chịu sự tác động lẫn nhau. Bằng sự tác động qua lại đó, sự tồn tại của sự vật, hiện tượng này luôn để lại dấu vết ở sự vật, hiện tượng khác.
Theo BLHS Việt Nam thì “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, được quy định trong Bộ luật hình sự và phải chịu hình phạt” [23, tr. Theo khái niệm trên, “tội phạm trước hết là hành vi của con người, những gì 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mới chỉ trong tư tưởng, chưa thể hiện ra bằng hành vi thì không phải là tội phạm, hành vi phạm tội là hành vi đã thực tế xảy ra trong thế giới khách quan và là một hiện tượng thuộc thế giới khách quan” [23, tr. Chính vì sự tồn tại khách quan mà tội phạm cũng để lại các dấu vết nhất định. Bằng cách thu thập các dấu vết để lại và thông qua chúng, con người có thể xác định được sự thật khách quan của vụ án.
Căn cứ vào các đặc điểm hình thành và tồn tại của từng loại dấu vết mà các nhà làm luật quy định trình tự, thủ tục thu thập, bảo quản, kiểm tra, đánh giá chứng cứ khác nhau để đảm bảo cho việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Thủ tục thu thập kiểm tra nguồn chứng cứ vật chất sẽ khác so với thủ tục kiểm tra nguồn chứng cứ phi vật chất. Thứ hai, con người có khả năng nhận thức được sự thật khách quan của vụ án hình sự. Chủ nghĩa DVBC khẳng định rằng con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan.
Trong sự tồn tại bất tận của thế giới khách quan, nhận thức của con người là tương đối nhưng cùng với sự phát triển của tự nhiên và xã hội, cùng với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật cũng như sự phụ thuộc vào nhiệm vụ nhận thức cụ thể, nhận thức của con người về thế giới khách quan ngày càng tiến dần đến tuyệt đối. Trong TTHS, phải nói rằng tội phạm là một hiện tượng xã hội có muôn hình, muôn vẻ. Tuy nhiên, các yếu tố có ý nghĩa pháp lý hình sự của một tội phạm lại được xác định rất cụ thể. Căn cứ vào ý nghĩa pháp lý hình sự của tội phạm mà người làm luật quy định đối tượng chứng minh, giới hạn các vấn đề chứng minh ở một phạm vi nhất định.
Đó là “sự việc phạm tội, người thực hiện tội phạm, lỗi, động cơ, mục đích phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các đặc điểm về nhân thân người phạm tội cũng như các thiệt hại do tội phạm gây ra” [12, tr. Như vậy, nhiệm vụ chứng minh trong TTHS là rất cụ thể và được giới hạn trong phạm vi nhất định. Nhìn từ góc độ nhiệm vụ tố tụng đặt ra, có thể nói việc chứng minh trong TTHS có thể đạt 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được sự thật khách quan tuyệt đối. Nói cách khác, với quan điểm này thì bất kỳ tội phạm nào xảy ra, con người đều có thể phát hiện và chứng minh được.
Thứ ba, học thuyết về nhận thức của CNDVBC là cơ sở phương pháp luận đặc biệt quan trọng trong lý luận về nguồn chứng cứ trong luật TTHS nước ta. Tinh thần cơ bản của học thuyết Mác – Lê nin về nhận thức là “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” [26, tr. Từ nhận thức cảm tính (trực quan sinh động), con người thu nhận các thông tin về tội phạm, từ đó có sự kiểm tra, đánh giá thông qua tư duy của mình, từ đó có kết luận về các tình tiết nói riêng và về tội phạm nói chung. Học thuyết về nhận thức của CNDVBC là học thuyết về sự phản ánh của thế giới khách quan trong ý thức con người; cách giải quyết vấn đề cơ bản của triết học là vật chất có trước và sau mới là ý thức.
Ý thức của con người có khả năng phản ánh chính xác, khách quan hiện thực khách quan, là xuất phát điểm cực kỳ quan trọng cho lý luận về nguồn chứng cứ, cho lập pháp TTHS về nguồn chứng cứ và áp dụng các quy định của pháp luật về nguồn chứng cứ trong thực tiễn. Thực tiễn là thước đo của nhận thức. Mặc dù chứng minh trong TTHS có những nét đặc trưng riêng, là nhận thức về một sự kiện đã xảy ra trong quá khứ với phạm vi và giới hạn xác định. Tuy nhiên, quan điểm này của học thuyết DVBC về nhận thức không phải là ngoại lệ của quá trình chứng minh.
Do quá trình chứng minh trong TTHS có những đặc trưng riêng nên việc dùng thực tiễn làm thước đo trong nhận thức về tội phạm cũng mang những nét đặc trưng riêng. Điều này thể hiện trong biện pháp thu thập chứng cứ như các biện pháp khám nghiệm, giám định, thực nghiệm điều tra. để tái tạo lại thực tiễn tội phạm, làm cơ sở kiểm tra, đánh giá các chứng cứ khác và kiểm tra lại nhận thức chung về tội phạm. Thông qua các nguồn chứng cứ 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khác nhau, con người có sự đối chiếu, so sánh các chứng cứ để tìm ra chân lý của sự việc.
Thứ tư, phương pháp biện chứng đặt nền móng cho việc áp dụng các quy luật của phép biện chứng duy vật vào quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ. Các nội dung quan trọng của phép biện chứng trong nhận thức như nguyên tắc toàn diện, đầy đủ, cụ thể, hệ thống… đóng vai trò quan trọng trong quá trình chứng minh. Phương pháp biện chứng của triết học Mác – Lê nin được thể hiện tương đối đầy đủ tại khoản 2 Điều 66 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003: “Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán và hội thẩm xác định và đánh giá mọi chứng cứ với đầy đủ tinh thần trách nhiệm, sau khi nghiên cứu một cách tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả các tình tiết của vụ án” [12, tr. CNDVBC chỉ ra rằng khi xem xét thế giới khách quan, cần đặt trong sự vận động, biến đổi không ngừng.
Lê nin đã từng nói: thế giới tồn tại trong vận động. Luận điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá chứng cứ, không thể tách rời từng chứng cứ khi chứng minh tội phạm mà phải xem xét đánh giá tổng hợp các chứng cứ thu được từ các nguồn chứng cứ khác nhau và đặt trong thực tế diễn biến vụ án. Khái niệm nguồn chứng cứ, vai trò của nguồn chứng cứ trong việc chứng minh tội phạm 1. Khái niệm nguồn chứng cứ Nguồn chứng cứ trong TTHS là một trong những vấn đề được các nhà lập pháp trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đề cập từ khá sớm, trong lịch sử đã có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này.
Trong khoa học pháp lý, các nhà nghiên cứu luôn cố gắng để đưa ra một khái niệm về nguồn chứng cứ hoàn chỉnh nhất, tuy nhiên do nhiều cách tiếp cận khác nhau nên các quan niệm của họ luôn có sự mâu thuẫn nhất định. Sở dĩ có sự khác nhau đó là do xuất phát từ những thế giới quan khác nhau, do trình độ phát triển không đều về kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chế định nguồn chứng cứ trong TTHS Việt Nam được ghi nhận lần đầu tiên trong Bản hướng dẫn về trình tự tố tụng sơ thẩm về hình sự được ban hành kèm theo Thông tư số 16/TATC ngày 27/9/1974 của TAND tối cao. Theo đó, nguồn chứng cứ bao gồm: Dấu vết, đồ vật, tài liệu có thể chứng minh việc phạm pháp; lời khai của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có trách nhiệm bồi thường, người có tài sản, quyền lợi có liên quan đến việc phạm pháp, nhân chứng; lời kết luận giám định viên, những tài liệu của cơ quan, đoàn thể cung cấp về nhân thân bị cáo.
Pháp luật TTHS Việt Nam hiện nay đã kế thừa các quy định và phát triển một số các loại nguồn chứng cứ của Thông tư trên. Có ý kiến cho rằng giữa nguồn chứng cứ và chứng cứ có quan hệ đến việc sử dụng chứng cứ: Từ những nguồn này, sau khi cơ quan tố tụng xác định nguồn nào để chứng minh trong từng vụ án cụ thể thì nguồn chứng cứ ấy trở thành chứng cứ… Giả dụ ta coi bàn tay úp sấp là nguồn chứng cứ và cũng bàn tay ấy để ngửa là chứng cứ thì động tác xoay cổ tay để bàn tay từ sấp thành ngửa được ví như quá trình điều tra, tư duy để xác định nguồn chứng cứ nào có thể được dùng là chứng cứ để chứng minh [8, tr. Như vậy, theo quan niệm này thì nguồn chứng cứ chính là chứng cứ. Nó chỉ phụ thuộc vào việc có sử dụng hay không trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Chứng cứ được chia làm hai loại là chứng cứ vật chất và chứng cứ phi vật chất.