Chương 1. Giám định kỹ thuật tài liệu 41 I. Khái niệm, các phương pháp nghiên cứu trong giám định kỹ thuật tài liệu 41 II. Một số trường hợp thường gặp trong giám định kỹ thuật tài liệu 44 7 Chương 2.
Giám định chữ viết 107 I. Khái niệm, cơ sở khoa học của giám định chữ viết 108 II. Đặc điểm truy nguyên của chữ viết 111 III. Các bước giám định chữ viết 113 IV.
Nghiên cứu một số dạng chữ viết đã bị thay đổi 125 V. Giám định chữ ký 127 VI. Thu lượm và bảo quản đối tượng giám định 129 VII. Hồ sơ giám định 131 Chương 3.
Một số lĩnh vực giám định tư pháp kỹ thuật hình sự khác 137 I. Giám định dấu vết đường vân 137 II. Giám định dấu vết súng đạn 146 III. Giám định giọng nói 155 IV.
Giám định dấu vết cơ học 168 Chương 4. Giám định pháp y 185 I. Giới thiệu chung về giám định pháp y 185 II. Một số tổn thương do ngoại lực tác động 192 III.
Khám nghiệm tử thi 213 Chương 5. Pháp y tâm thần 223 I. Khái niệm 223 II. Các văn bản pháp luật liên quan giám định pháp y tâm thần 225 III.
Tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y tâm thần 227 8 IV. Quyền và nghĩa vụ của giám định viên pháp y tâm thần 231 V. Các nguyên tắc, thủ tục trong công tác giám định pháp y tâm thần 233 VI. Quy trình chung giám định pháp y tâm thần 240 VII.
Tổ chức một cơ sở giám định pháp y tâm thần 250 9 10 PHẦN I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP HÌNH SỰ I. KHÁI NIỆM, ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ, PHẠM VI, NGUYÊN TẮC, NGƯỜI TIẾN HÀNH GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP 1. Khái niệm giám định tư pháp Trong đời sống xã hội thường xuyên phát sinh tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cơ quan, tổ chức hoặc giữa cơ quan, tổ chức với nhau về lợi ích vật chất, lợi ích phi vật chất. Vì vậy, cần có sự giải quyết của một chủ thể trung gian là những cơ quan tư pháp như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và các cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền theo luật định, sử dụng quyền lực nhà nước tìm kiếm, phát hiện, thu thập, đánh giá, sử dụng các chứng cứ khách quan, tập hợp thành hồ sơ vụ việc, vụ án để từ đó có những quyết định, phán quyết công bằng, bình đẳng giữa các bên tranh chấp.
Việc sử dụng quyền lực nhà nước giải quyết 11 các tranh chấp giữa các chủ thể khác nhau trong đời sống xã hội bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo luật định nhằm bảo đảm sự thật khách quan và công bằng được hiểu là thực hiện hoạt động tư pháp và quyền lực nhà nước được sử dụng để quyết định, phán quyết đối với các tranh chấp này chính là quyền tư pháp. Khi thực hiện hoạt động tư pháp, để có thể ra các quyết định, phán quyết khách quan và công bằng thì các cơ quan tư pháp mà cụ thể là các chủ thể tiến hành tố tụng, đại diện cho các cơ quan này phải căn cứ vào các chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ theo một trình tự thủ tục do luật định. Các chứng cứ ở đây chính là các thông tin mang tính khách quan, liên quan và hợp pháp đến vụ việc, vụ án đang được giải quyết. Tuy nhiên, không phải lúc nào khi tiếp cận vụ việc, vụ án đang được giải quyết, các cơ quan chức năng và cá nhân thực hiện quyền tư pháp cũng có thể nhìn nhận rõ ngay bản chất của vấn đề và thu thập ngay được đầy đủ chứng cứ bởi con đường của nhận thức là từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều và một cá nhân không thể hiểu biết sâu rộng hết tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Chính vì vậy, để có thể hiểu biết khách quan, toàn diện nhất, thu thập được đầy đủ nhất các chứng cứ trong giải quyết một vụ việc, vụ án, các cơ quan tư pháp phải yêu cầu các cơ quan khoa học, các nhà chuyên môn có kiến thức 12 chuyên ngành xem xét, đánh giá, kết luận về một sự vật, hiện tượng nào đó có liên quan nhằm hỗ trợ các cơ quan tư pháp có thêm hiểu biết để ra những quyết định, phán quyết có căn cứ, chính xác, khách quan, công bằng. Việc lấy ý kiến từ các cơ quan khoa học, các nhà chuyên môn của các cơ quan tư pháp này được gọi là trưng cầu giám định và việc sử dụng những kiến thức, phương pháp, phương tiện khoa học - kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn để kết luận những vấn đề thực tiễn theo yêu cầu của cơ quan tư pháp hay tổ chức xã hội hoặc của công dân nhằm giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực tư pháp được gọi là giám định tư pháp. Cơ quan khoa học ở đây bao gồm Cơ quan giám định và cơ quan chuyên ngành, các nhà chuyên môn khi được bổ nhiệm theo quy định có thể trở thành các giám định viên Giám định tư pháp trong những vụ việc mang tính hình sự hoặc vụ án hình sự được gọi là giám định tư pháp hình sự. Trong đó, vụ việc mang tính hình sự là vụ việc xảy ra trong đời sống xã hội, có dấu hiệu của tội phạm mà chúng ta có thể nhận biết được thông qua một hoặc nhiều hành vi, hậu quả được mô tả trong các cấu thành tội phạm của Bộ luật hình sự.
Vụ án hình sự là những vụ việc mang tính hình sự, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát động tố tụng hình sự bằng việc ban hành một quyết định khởi tố vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. 13 Từ những phân tích trên có thể hiểu, giám định tư pháp hình sự là việc các cơ quan giám định, cơ quan khoa học chuyên ngành, các giám định viên tư pháp, nhà chuyên môn sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận chuyên môn về những vấn đề có liên quan đến vụ việc mang tính hình sự hoặc vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nhằm phục vụ cho việc giải quyết vụ việc mang tính hình sự hay vụ án hình sự. Đối tượng của giám định tư pháp hình sự Đối tượng của giám định tư pháp hình sự là những đối tượng vật chất cụ thể, được đưa ra xem xét, nghiên cứu trong quá trình giám định nhằm giải quyết các yêu cầu mà chủ thể trưng cầu giám định đặt ra. Đối tượng giám định có thể chia thành hai loại là mẫu giám định và mẫu so sánh.
Hai loại đối tượng này không thể thiếu trong quá trình giám định. - Mẫu giám định (ký hiệu là A), bao gồm những phản ánh vật chất của một đối tượng nhất định như phản ánh của các dấu vết thu được ở hiện trường và các mẫu vật, tài liệu có liên quan đến vụ việc mà cơ quan trưng cầu giám định cần điều tra, xem xét (ví dụ: giấy biên nhận tiền, vỏ đạn,. Mẫu giám định thường thu được tại hiện trường và bảo quản, chuyển giao trưng cầu giám định theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. 14 - Mẫu so sánh (ký hiệu là M), là các đối tượng vật chất cụ thể hoặc các phản ánh của các đối tượng đó, tùy theo từng lĩnh vực giám định và yêu cầu giám định mà Cơ quan giám định yêu cầu đặt ra.
Mẫu so sánh có thể là vật thể nếu so sánh trực tiếp giữa đối tượng cần giám định với đối tượng so sánh. Ví dụ: Mảnh vỡ của yếm xe máy thu được tại hiện trường vụ tai nạn giao thông mà đối tượng gây tai nạn rồi bỏ chạy có khớp với phần bị khuyết trên yếm xe máy của đối tượng tình nghi mà Cơ quan điều tra thu giữ được không? Việc so sánh này nhằm trả lời câu hỏi đây có phải là chiếc xe máy đã va chạm và để lại mảnh vỡ tại hiện trường không? Mẫu so sánh cũng có thể là các phản ánh của người, vật thể nghi vấn có liên quan đến sự việc đã xảy ra. Đây là loại phổ biến nhất, trong trường hợp này, các phản ánh có thể do cơ quan trưng cầu giám định thu thập hoặc Cơ quan giám định tạo ra qua thực nghiệm,. Cũng giống như đối tượng cần giám định (mẫu giám định), mẫu so sánh cũng cần phải được bảo quản, chuyển giao theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Nhiệm vụ của giám định tư pháp hình sự Nhiệm vụ của giám định tư pháp hình sự là làm sáng tỏ toàn bộ những yêu cầu mà cơ quan trưng cầu giám định đặt ra đối với cơ quan và người tiến hành giám định. Hai nhiệm vụ chính của giám định tư pháp hình sự là: 15 - Tổ chức tiến hành kịp thời, nhanh chóng, bảo đảm chính xác, khách quan để trả lời sớm nhất tất cả những câu hỏi trong bản trưng cầu giám định hoặc yêu cầu giám định. - Có trách nhiệm phát hiện phương thức, thủ đoạn phạm tội, những sơ hở của cơ quan, tổ chức để phục vụ cho phòng ngừa tội phạm. Nhiệm vụ cụ thể của giám định tư pháp hình sự gồm: - Nguyên nhân chết người.
- Tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động. - Cơ chế hình thành các dấu vết. - Tình trạng tâm thần của bị can, bị cáo trong trường hợp có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ. - Tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc người bị hại trong trường hợp có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức và khai báo đúng đắn đối với những tình tiết của vụ án.
- Tuổi của bị can, bị cáo, người bị hại, nếu việc đó có ý nghĩa đối với vụ án và không có tài liệu khẳng định tuổi của họ hoặc có sự nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó. - Xác định xem chất, vật thu giữ hoặc chất, vật đối chiếu có phải là chất độc, chất ma tuý, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ, chất nổ, chất cháy,. 16 - Xem xét mức độ ô nhiễm môi trường. - Xem xét, kết luận về các thuộc tính, tác dụng,.
của các tài liệu, dấu vết, vật chứng khác thu thập được trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án. Thời hạn của giám định tư pháp hình sự Thời hạn của giám định tư pháp hình sự là khoảng thời gian mà hoạt động giám định tư pháp hình sự được phép tiến hành.