Chương 1: Những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của người bào chữa. Chương 2: Quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về địa vị pháp lý của người bào chữa và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Hà Nam. Chương 3: Một số giải pháp bảo đảm thực hiện đúng các quy định của pháp luật và nâng cao địa vị pháp lý của người bào chữa. Chuong 1 NHUNG VAN DE LY LUAN VE DIA VI PHAP LY CUA NGUOI BAO CHUA 1.
Khái niệm địa vị pháp lý của Người bào chữa 1. Người bào chữa NBC là một chế định pháp luật quan trọng của pháp luật TTHS Việt Nam nhăm thể chế hóa, góp phần đảm bảo cho Quyền con người được qui định trong Hiến pháp. Chế định pháp luật bao gồm một số quy phạm có những đặc điểm chung giống nhau nhằm điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội tương ứng [35, tr. Như vậy, có thê hiểu răng chế định NBC là tổng thể những quy định của pháp luật TTHS có đặc điểm chung giống nhau nhằm điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội liên quan đến NBC.Đề làm rõ được vấn dé địa vị pháp lý của NBC, trước hết chúng ta cần hiểu rõ khái niệm NBC.
Theo từ điển tiếng Việt, bào chữa là việc “một người dùng lý lẽ, chứng cứ đề bệnh vực cho ai đó đang bị coi là phạm pháp hoặc bị lên án ”[41] hoặc là “gạt bỏ lý lẽ khác đề chữa tội mình hoặc chữa cho người khác” [40]. Như vậy có thê hiểu NBC là việc một người dùng lý lẽ, chứng cứ đề bênh vực cho người khác đang bị coi là phạm pháp. Đối với khái niệm NBC, trước khi có BLTTHS năm 2015, trong khoa học pháp lý cũng như trong các quy định của pháp luật TTHS chưa có quan điểm thống nhất nào về khái nệm NBC. Trên cơ sở nghiên cứu chế định NBC trong luật TTHS Việt Nam và thực tiễn việc áp dụng pháp luật, từ các góc độ khác nhau cũng có những quan điểm khác nhau về khái niệm NBC.
Có quan điểm cho rằng: NBC là người tham gia tố tụng với mục đích làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án nhằm chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lý cần thiết [12, tr. Có quan điểm khác lại cho răng: NBC trong TTHS là người tham gia tố tụng đề chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội, giúp Người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chu nghia [1]. Hay như có quan điểm cho rằng: NBC là người tham gia tố tụng với mục đích làm sáng tỏ những tình tiết liên quan đến sự thật của vụ án nhằm chứng minh vé su vo tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bi can, bị cáo và giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lý cần thiết [42, tr. Mỗi quan điểm trên xuất phát từ những góc độ khác nhau, tuy nhiên đều có điểm chung là nhân mạnh vào trách nhiệm, mục đích của NBC trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho NBBT, mà chưa đưa ra được các qui định của pháp luật TTHS về điều kiện, tiêu chuẩn, cũng như vị trí, vai trò của NBC khi tham gia TTHS.
NBC được người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, gọi chung là NBBT nhờ bào chữa hoặc được các CQTHTTT chỉ định tham gia TTHS với nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích cho NBBT. NBC có thê là Luật sư, Bào chữa viên nhân dân, Trợ giúp viên pháp lý hoặc Người đại diện của NBBT. Đề thống nhất về mặt nhận thức pháp luật, BLTTHS năm 2015 lần đầu tiên đã đưa ra khái niệm về NBC được quy định tại khoản 1 Điều 72 BLTTHS: “NBC là người được Người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyên tiến hành tô tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyên tiến hành tổ tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa” [30]. Tác giả hoàn toàn nhất trí với khái niệm mà BLTTHS năm 2015 đưa ra.
Nó đã khắc phục được những hạn chế của những khái niệm NBC trong khoa học pháp lý, đưa ra định nghĩa một cách khái quát và đầy đủ về NBC. Từ khái niệm trên có thê rút ra đặc diém cua NBC va phạm vi bào chữa như sau: Thứ nhất, NBC là người được Người bị buộc tội bao gồm “Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” [30] nhờ bào chữa hoặc các cơ quan có thâm quyên tiến hành tổ tụng bao gồm Co quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án chỉ định trong trường hợp Người bị buộc tội thuộc diện được chỉ định NBC Thứ hai, NBC phải được cơ quan, người có thâm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa cho người bị buộc tội, tức là NBC phải có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn thì mới được các cơ quan tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa. Theo qui định cua pháp luật, các tiêu chuẩn, điều kiện trên bao gồm: - Phải không thuộc một trong các trường hợp không được bào chữa theo qui dinh tai BLTTHS nam 2015: a) Người đã tiến hành tố tụng vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng vụ án đó; b) Người tham gia vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; c) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người bị kết án mà chưa được xoá án tích, người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc [30, Điều 72, Khoản 4]. - Phải đáp ứng các điều kiện do các văn bản pháp luật khác qui định.
Ví dụ như đối với NBC là Luật sư thì phải đáp ứng các điều kiện do Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn, đối với NBC là Trợ giúp viên pháp lý thì phải đáp ứng các điều kiện do Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản hướng dẫn. Từ khái niệm NBC có thê thấy được sự khác nhau giữa NBC với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Theo quy định tại khoản 1 Điều 83 BLTTHS năm 2015 “Người bào vệ quyên và lợi ích hợp pháp của người bị tô giác, người bị kiến nghị khởi tổ là người được người bị tổ giác, người bị kiến nghị khởi tổ nhờ bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp ” [30]. Quá trình giải quyết tổ giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là giai đoạn các cơ quan tiến hành tố tụng kiểm tra, xác minh giải quyết nguồn tin tố giác về tội phạm.
Trong giai đoạn này, người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố chưa bị coi là người bị buộc tội, bởi vậy người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ trong giai đoạn này không thể gọi là NBC. Người bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố là một chủ thể tham gia tô tụng mới được quy định trong BLTTHS năm 2015 nên các quy định về chủ thể này chưa được hoàn thiện như các quy định về NBC như: chưa quy định về trường hợp nào bắt buộc phải chỉ định người bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, thủ tục đăng ký để tham gia trong giai đoạn nảy cũng chưa được quy định, trong trường hợp nào thì không được tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tố giác, kiến nghị khởi tố. NBC cũng khác với người bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 84 BLTTHS 2015, “Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người được bị hại, đương sự nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp” [30].
Quyền và lợi ích hợp pháp của NBBT mà NBC bảo vệ bao giờ cũng xung đột với quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại. Trong BLUTTHS 2015 cũng không quy định trường hợp nào thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hai, đương sự không được tham gia tố tụng và việc đăng ký tham gia như thế nào cũng không được qui định cụ thể như NBC. Địa vị pháp lý của người bào chữa Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác — Lê nin cho rằng con người là một thực thể thống nhất giữa cái tâm sinh lý và cái xã hội. Sự tồn tại của con người không tách được khỏi môi trường xã hội và xét vê mặt bản chât thì con 10 người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội.
Tính đa dạng trong quan hệ xã hội của mỗi người tạo nên địa vị xã hội của họ. Xét ở một khía cạnh nào đó địa vị pháp lý cũng là một bộ phận nằm trong địa vị xã hội của con người, xác định vị trí của con người trong mối quan hệ với những người khác. Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, “địa vị” là: Vị trí cá nhân trong quan hệ xã hội, do chức vụ, cấp bậc, quyền lực mà có, về mặt được coi trọng nhiều hay it [39, tr. Còn “địa vị pháp lý” được định nghĩa trong cuốn từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý trực thuộc Bộ tư pháp là: Vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thê pháp luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật.
Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật thê hiện thành một tông thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình. Ví dụ: địa vị pháp lý cơ bản của công dân được thể hiện thành tổng thể các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được hiến pháp và pháp luật quy định. Một sự kiện pháp lý như chết, thương tích do tai nạn., một hành vi pháp lý như mua, bán, tặng, cho để lại thừa kế tạo ra một loạt quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm. cho một chủ thê nhất định.
Thông qua địa vị pháp lý có thể phân biệt chủ thê pháp luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời cũng có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật [38].