Chương 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VỚI TỘI CƯỚP TÀI SẢN 1. Lý luận về thực hành quyền công tố của viện kiểm sát trong vụ án hình sự 1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong vụ án hình sự Trước khi đi vào phân tích khái niệm thực hành quyền công tố, việc tìm hiểu nguồn gốc của cụm từ “công tố” và cụm từ “kiểm sát” là hữu ích để hình dung và từ đó hiểu bản chất của các khái niệm trên dưới góc nhìn pháp lý. Có thể thấy, bản thân “công tố” là một từ Hán – Việt.
Theo phần dịch nghĩa tại một số từ điển Hán – Việt [12, Tr. Với cách tìm hiểu tương tự như trên, từ “kiểm” ( 检) mang ý nghĩa “tra xét” hay “xem xét việc làm đúng hay sai”; từ “sát” (察) mang ý nghĩa “xem xét kỹ lưỡng”, từ này thường được sử dụng phổ biến trong các văn bản đề cập đến các cơ quan nhà nước; trong lịch sử phong kiến Trung Quốc, tồn tại một cơ quan nhà nước với chức năng giám sát hoạt động của quan lại và các cơ quan nhà nước khác với tên gọi là “sát viện” (察院) [12, Tr. Trong tiếng Việt, cụm từ “công tố” cũng được nhắc đến và giải thích với ý nghĩa là “điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước tòa án” [14]. Ý nghĩa này hoàn toàn phù hợp với ý nghĩa nguyên gốc của các cụm từ Hán Việt vừa được đề cập mà không có sự thay đổi.
6 luan an Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, việc sử dụng cụm từ “công tố” và “kiểm sát” được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật nói chung và pháp luật về tư pháp nói riêng. Trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, có quy định rõ về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát như sau: “Viện kiểm sát nhân dân Tối cao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật ., thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” [15]. Bằng quy định Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, Hiến pháp 1992 (được sửa đổi năm 2001) và Hiến pháp 2013 khẳng định chức năng chính của Viện kiểm sát là thực hành quyền công tố và thu hẹp phạm vi kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát: “ Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”[16]. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và các văn bản pháp luật tố tụng hình sự khác cụ thể hoá chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát[8].
Như vậy, có thể thấy rằng, khái niệm công tố theo ý nghĩa pháp lý không được quy định, giải thích cụ thể mà chỉ được đề cập đến (được công nhận) trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam. Thông qua ý nghĩa “vạch tội” hay “buộc tội”, có thể thấy khái niệm công tố gắn bó trực tiếp với lĩnh vực tư pháp hình sự. Tuy nhiên, việc pháp luật Việt Nam quy định chức năng và nhiệm vụ của Viện Kiểm sát bao gồm cả lĩnh vực kiểm sát hoạt động tư pháp (nói chung), đã mở rộng phạm vi chức năng nhiệm vụ này sang các lĩnh vực khác như dân sự, kinh tế. Dưới góc độ tư duy lập pháp, có thể thấy cơ quan soạn thảo áp dụng sự phân định rạch ròi quyền công tố và hoạt động kiểm sát tư pháp.
Cụ thể là “quyền công tố” gắn với việc điều chỉnh các quan hệ pháp luật hình sự (cụ thể là việc giải quyết các vụ án hình sự) và “kiểm sát tư pháp” gắn với những quan hệ pháp luật khác. Trong khuôn khổ 7 luan an luận văn, tác giả chỉ đề cập và đưa ra khái niệm về quyền công tố gắn với lĩnh vực pháp luật hình sự. Qua những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về quyền công tố trong vụ án hình sự như sau: Quyền công tố trong vụ án hình sự là một quyền của nhà nước, được giao cho (Viện Kiểm sát) thực hiện, nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đưa chủ thể phạm tội ra xét xử trước tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa. Trước khi Viện Kiểm sát ra đời, tại Việt Nam đã tồn tại Viện Công tố như một sự áp đặt mô hình tổ chức của Cộng hòa Pháp lên nước ta trong thời kỳ Pháp thuộc (1884-1945).
Về mặt tổ chức, Viện Công tố Pháp là một chế định được đặt trong hệ thống Toà án, nhưng không lệ thuộc vào Toà án (những quy định về Viện công tố nằm trong các văn bản quy phạm pháp luật về Tổ chức tòa án). Hệ thống cơ quan Công tố Pháp gồm có: Viện công tố nằm trong các Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng; Viện Công tố tại Toà phúc thẩm; Viện công tố bên cạnh Toà án phá án. Về mặt nhân sự và quản lý hành chính Viện công tố trực thuộc Bộ tư pháp và Viện công tố không phải là mối quan hệ chỉ đạo trực tiếp mà là thông qua giám sát hoạt động của Viện công tố. Các công tố viên là viên chức nhà nước nhưng không phụ thuộc vào cơ quan hành pháp[7].
Để ban hành văn bản pháp luật cho lĩnh vực tư pháp tại Việt Nam thời thuộc pháp, ngày 17 tháng 6 năm 1889, Tổng thống Pháp ký ban hành Sắc lệnh cải tổ tổ chức tư pháp tại Nam Kỳ. Sắc lệnh gồm 8 phần, 146 điều, trong đó có quy định về chế định Viện Công tố như sau: “Chức năng của Viện Công tố do biện lý và thẩm phán thay biện lý đảm nhiệm trước Toà án Sài Gòn và do biện lý đảm nhiệm trước các toà án nằm trong khu vực Nam Kỳ”[24]. 8 luan an Về mặt lý luận, quyền công tố trong vụ án hình sự được định nghĩa là một quyền cụ thể của nhà nước, thì về mặt thực tiễn, việc thực hành quyền công tố được cụ thể hóa thành chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của các cơ quan tố tụng hình sự theo quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật. Xuất phát từ khái niệm quyền công tố trong vụ án hình sự, tác giả luận văn đưa ra khái niệm thực hành quyền công tố trong vụ án hình sự như sau: “Thực hành quyền công tố trong vụ án hình sự là việc Viện Kiểm sát sử dụng các quyền năng pháp lý do pháp luật quy định để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự chủ thể tội phạm và đưa chủ thể tội phạm ra xét xử trước tòa án”.
Đối tượng của việc thực hành quyền công tố trong vụ án hình sự. Luật hình sự là một hệ thống các quy phạm pháp luật xác định những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là các tội phạm và hình phạt áp dụng cho người (cá nhân) hoặc tổ chức (pháp nhân) phạm tội. Luật hình sự duy trì trật tự xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, của cơ quan, tổ chức, của công dân và của con người. Khi một vụ án hình sự xảy ra, tức là đã có hành vi khách quan xâm phạm vào các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức hoặc của Nhà nước.
Để thực thi pháp luật hình sự, Cơ quan điều tra tiến hành điều tra tội phạm khi phát hiện dấu hiệu tội phạm. Một khi tội phạm đã được cấu thành theo quy định của Bộ luật hình sự, Viện kiểm sát sẽ thực hành quyền công tố của mình nhằm xác định một cách chính xác khung hình phạt, mức hình phạt cho người có hành vi phạm tội để tiến hành xét xử tại Tòa án. Như vậy, đối tượng của việc thực hành quyền công tố trong vụ án hình sự là hành vi phạm tội và chủ thể phạm tội. * Việc thực hành quyền công tố đối với hành vi phạm tội 9 luan an Nội dung thực hành quyền công tố đối với hành vi phạm tội của Viện Kiểm sát được tiến hành trên cơ sở các quy định của Điều 16 Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân 2014.
Về mặt tổng quát, việc thực hành quyền công tố đối với hành vi phạm tội nhằm các mục đích xác định một hành vi có cấu thành tội phạm hay không dựa trên hồ sơ vụ án và kết luận điều tra của Cơ quan điều tra và hoạt động tự chứng minh của mình để không làm oan người vô tội đồng thời không bỏ lọt tội phạm. Cơ sở pháp lý để Viện Kiểm sát thực hành quyền công tố đối với hành vi phạm tội được quy định tại các Khoản 2; Khoản 3; Khoản 4; Khoản 9 của Điều 16 Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân 2014, bao gồm: - Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan đến vụ án trong trường hợp cần thiết. - Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ để quyết định việc truy tố hoặc khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung mà xét thấy không cần phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra. - Quyết định khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong trường hợp phát hiện vụ án còn có hành vi phạm tội, người phạm tội khác chưa được khởi tố, điều tra và trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung.
- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để quyết định việc truy tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. * Việc thực hành quyền công tố đối với chủ thể phạm tội Ngày 01/01/2018, Bộ luật hình sự (BLHS) số 100/2015/QH13 được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 (sau đây gọi là Bộ luật hình sự 2015) đã chính thức có hiệu lực thi hành. Đây là lần đầu tiên chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại được quy định trong luật 10 luan an hình sự Việt Nam, tạo ra một trong những thay đổi quan trọng nhất của BLHS 2015, do đó, cần thiết phải thay đổi khái niệm người phạm tội trở thành chủ thể phạm tội. Về mặt tổng quát, việc thực hành quyền công tố đối với chủ thể phạm tội nhằm mục đích: Ngăn chặn sự đối phó của chủ thể phạm tội với các hoạt động điều tra, truy tố (thông qua các biện pháp ngăn chặn); Truy tố chủ thể phạm tội về tội danh và đề xuất khung hình phạt đúng quy định của Bộ luật Hình sự.