Chương 1: Một số van dé lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố: Chương 2: Quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tô và thực tiễn thi hành; Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyên công tô trong giai đoạn truy tố. CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE THUC HANH QUYEN CONG TO TRONG GIAI DOAN TRUY TO 1. Khai niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố 1. Khái niệm quyên công to Trên thé giới, khái niệm quyên công tố và thực hành quyền công tố đã xuất hiện từ rất sớm, gắn liền với từng kiểu nhà nước và cách thức tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước ở mỗi quốc gia với những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thé.
Ở nước ta, dưới góc độ lập pháp thì Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 chưa trực tiếp đề cập đến công tố và hoạt động công tố. Hiến pháp năm 1980 lần đầu tiên đưa ra thuật ngữ “quyền công tố” trong cụm từ “thực hành quyền công tố” khi đề cập đến chức năng của VKSND tại Điều 138, thuật ngữ này cũng được thể hiện trong Điều 137 Hiến pháp năm 1992, đến Hiến pháp năm 2013 thì cụm từ “thực hành quyền công tố” được đặt lên trước cụm từ “kiểm sát hoạt động tư pháp”, đây là một điểm nhấn khác biệt so với các bản Hiến pháp trước đây. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức VKSND và các văn bản pháp luật tố tụng hình sự khác cũng có những quy định tương tự. Khái niệm quyên công tố đã được đề cập nhiều trong khoa học pháp lí ở nước ta nhưng đây là van dé vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau và hiện tại vẫn chưa có quan điểm nào được các cơ quan có thầm quyền chính thức công nhận.
Theo Từ điển tiếng Việt thì “Công tố là truy tố, buộc tội bị cáo và phát biểu ý kiến trước Tòa án, nhân danh Nhà nước”!. Từ điển Luật học định nghĩa: “Quyền công tổ là quyền buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người phạm tội””. Như vậy có thé hiểu một cách khái quát quyền công té là quyền buộc tội của Nhà nước đối với người thực hiện hành vi tội phạm thông qua ' Từ điển Tiếng Việt (2004), Nxb Đà Nẵng, tr. ? Từ điển Luật học (2006), Nxb Từ điển Bách khoa - Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.
7 việc truy t6 người đó ra trước Tòa an dé xét xử và buộc tội người bị xét xử tại phiên tòa. Trong giới nghiên cứu khoa học pháp lý ở nước ta hiện nay đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố: Quan điểm thứ nhất đồng nhất khái niệm quyền công tô với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND (trước khi Hiến pháp năm 1992 được sửa đối, bổ sung năm 2001). Có thé thay rõ quan điểm này xuất phát từ chức năng của VKSND để xem xét quyền công tố. Quan điểm này cho rằng, tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là thực hành quyền công tô.
Điều đó có nghĩa là, ngay cả khi VKS kiến nghị yêu cầu các cơ quan nhà nước sửa chữa những vi phạm phát luật của mình trên lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội (trước đây gọi là kiểm sát chung) cũng là thực hành quyền công tố. Và bởi vậy, có nhiều nước gọi VKS là Viện công tố. Theo quan điểm này, quyền công tô không phải là một chức năng độc lập của VKS, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Quan điểm này cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các nhà tố tụng hình sự học Liên Xô trước đây.” Theo chúng tôi, hiểu khái niệm quyên công tố theo quan điểm trên là chưa chính xác.
Bởi vi, quan điểm này đã đánh đồng khái niệm quyền công tố với khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật và cũng không phù hợp với các quy định của Hién pháp và các văn bản quy phạm pháp luật. Theo quy định của pháp luật nước ta thời kỳ trước khi Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi thì VKS có hai chức năng rất cụ thể: chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và chức năng thực hành quyên công tố. Trong quá trình thực hiện, cho dù giữa hai chức năng này có một số nội dung đan xen, liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau nhưng không vì thế mà phủ nhận tính độc lập của chúng cả về nội dung lẫn phạm vi áp dụng. Bởi lẽ đó, không thé đồng nhất hai chức năng này của VKS với nhau.
- Giáo trình Công tác kiểm sát (Phần chung) (1984), Trường Cao dang kiểm sát, tr. - Giáo trình Công tác kiểm sát (1996), tập 1, Trường Cao dang kiểm sát Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, tr. - Giáo trình tố tụng hình sự Xô Viết (1980), Nxb.
Pháp lý Matxcova, tr. Quan điểm thứ hai cho rằng quyền công tổ là quyền của Nhà nước giao cho VKS truy tô kẻ phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa (thực hiện quyền công tố)”. Quan điểm này nhẫn mạnh vai trò duy nhất của VKS trong việc thực hiện quyền công tố và chỉ thực hiện duy nhất trong tố tụng hình sự và cũng chỉ ở một giai đoạn duy nhất của tố tụng hình sự là giai đoạn xét xử sơ thầm. Quan điểm này đã quá thu hẹp khái niệm, nội dung, phạm vi quyền công tố và không phản ánh được day đủ bản chất của quyền này.
Trên thực tế, hoạt động truy tố và buộc tội của VKS tại phiên tòa chỉ là một số nội dung hoạt động của VKS khi thực hành quyền công tố. Quan điểm thứ ba cho rang quyền công tố là quyền đại diện cho nhà nước dé đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích của nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật”. Những người theo quan điểm nay cho rằng quyền công tố xuất hiện từ khi có nhà nước và pháp luật, được thé hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, t6 tụng hình sự; cùng với sự phát triển của xã hội, của các ngành luật, quyền công tố được mở rộng sang lĩnh vực dân sự, tố tụng dân sự và các lĩnh vực tổ tụng tư pháp khác. Quyền công tô là một nội dung của hoạt động thực hiện chức năng của VKSND trong lĩnh vực tô tụng hình sự, tố tụng dân sự và các lĩnh vực tư pháp khác nhằm đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội bi xử lý theo pháp luật.
Quan điểm này đã quá mở rộng khái niệm, nội dung và phạm vi của quyền công tố, đã đồng nhất quyền công tố với những quyền năng của VKS trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh té, lao động. Quan điểm thứ tư cho rằng quyền công tố là quyền nhà nước giao cho các cơ quan tiên hành tô tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và ap * Võ Thọ (1985), Một số vấn dé về Luật tổ tụng hình sự, Nxb.86-88 Thạch Giản (1982), Tim hiểu bộ máy nhà nước Viện kiểm sát nhân đân, Nxb.22 > Giáo trình Công tác kiểm sát (Phan chung) (1984), Trường Cao dang kiểm sát, tr. Giáo trình Công tác kiểm sát (1996), tập 1, Trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, tr.
9 dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội. Theo quan điểm này thì quyền công tố do các cơ quan tiễn hành tố tụng thực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự và thi hành án hình sự. Đó là hoạt động tố tụng của Điều tra viên, KSV và những người khác được pháp luật quy định có trách nhiệm xác định kẻ phạm tội cũng như các căn cứ dé kết tội và áp dụng các hình phạt đối với người phạm tội”. Hiểu quyền công tố theo quan điểm này dẫn đến sự nhằm lẫn giữa các hoạt động buộc tội, xét xử và bào chữa trong tố tụng hình sự.
Mỗi một hoạt động trên được thực hiện bởi một hoặc một số chủ thể nhất định, tùy thuộc vào từng giai đoạn cụ thé của quá trình tố tụng hình sự. Theo quan điểm nêu trên thì không chỉ CQDT va Cơ quan công tổ mà Cơ quan xét xử và Cơ quan thi hành án déu là chủ thé thực hành quyên công tó. Quan điểm thứ năm cho rằng quyền công tô bao gồm quyền khởi tố, điều tra vụ án, quyền truy tố và buộc tội bị cáo trước Tòa án. Quyền công tố luôn gắn liền với hoạt động buộc tội nhân danh nhà nước, do vậy quyền công tố chỉ được thực hiện duy nhất trong lĩnh vực tố tụng hình sự.
Chủ thé tham gia vào hoạt động thực hành quyền công tố chỉ bao gồm CQDT (Điều tra viên) và Viện công tố (Công tố viên). Hoạt động truy tố người phạm tội, hành vi phạm tội ra trước Tòa án để xét xử chỉ do Viện công tố thực hiện. Quyền công tố được sử dụng dé bảo vệ cả lợi ích công và lợi ích của cá nhân, tổ chức bị hành vi phạm tội xâm hại. Quan điểm này lại mở quá rộng phạm vi quyền công tố cũng như chủ thé thực hành quyền công tố vì cho rằng hoạt động điều tra cũng là hoạt động thuộc nội dung quyền công tố.
Quan điểm thứ sáu cho rằng quyền công tô là quyền của nha nước đưa các việc làm phạm pháp liên quan đến lợi ích chung ra Tòa để xét xử, vì nhà nước nhân danh xã hội duy trì trật tự chung bằng pháp luật. Những người theo quan diém nay đưa ra kêt luận: quyên công tô là quyên nha nước nhân danh ° Thuật ngữ pháp lý phô thông (1986), Tập 1, Nxb Pháp lý, tr.94 - Tội phạm học, Luật hình sự và Tô tụng hình sự (1995), Nxb Chính trị quôc gia, tr. 10 xã hội truy cứu trách nhiệm pháp lý đến cùng đối với những người có hành vi phạm tội hoặc hành vi vi phạm pháp luật, mọi hành động xâm hai đến lợi ích chung, nhăm mục đích duy trì trật tự của cộng đồng, trật tự pháp luật mà nhà nước đặt ra dé duy trì, củng cô và phát triển các quan hệ xã hội. Quyền công tố không chỉ có trong lĩnh vực hình sự mà còn có trong các lĩnh vực khác như dân sự, hành chính, kinh tế, lao dong’.
Quan điểm này coi mọi việc đưa ra Tòa án dé giải quyết đều do vi phạm pháp luật.