Nghiên cứu về chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam

Luận án tiến sĩ luật học phân tích chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam, đóng góp quan trọng vào nghiên cứu pháp lý và thực tiễn tư pháp.

Chuyên ngành

Luật Hình sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2019

235
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án

1.2. Đánh giá kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu

1.3. Cơ sở lý thuyết, giả thuyết nghiên cứu và các câu hỏi nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN VỀ CHỦ THỂ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

2.1. Khái niệm, đặc điểm, cơ sở xuất hiện chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự

2.2. Phạm vi chủ thể buộc tội và vai trò của mỗi chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHỦ THỂ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

3.1. Thực trạng quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về chủ thể buộc tội

3.2. Thực tiễn hoạt động của các chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam

3.3. Nhận xét, đánh giá chung về thực trạng chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam

4. CHƯƠNG 4: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CHỦ THỂ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

4.1. Yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động của chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam

4.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam

Chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính công bằng và minh bạch của quá trình tố tụng. Chủ thể buộc tội bao gồm các cơ quan như Cơ quan điều tra (CQĐT), Viện kiểm sát (VKS) và Tòa án. Mỗi chủ thể này có những chức năng và trách nhiệm riêng, ảnh hưởng đến kết quả của vụ án. Theo luật học, việc xác định rõ ràng vai trò của từng chủ thể là cần thiết để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan, đặc biệt là quyền lợi của bị cáo. Việc nghiên cứu về chủ thể buộc tội không chỉ giúp làm rõ các quy định pháp luật hiện hành mà còn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các chủ thể này trong thực tiễn.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của chủ thể buộc tội

Khái niệm về chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam được hiểu là những cá nhân hoặc tổ chức có quyền và nghĩa vụ thực hiện việc buộc tội trong quá trình tố tụng. Đặc điểm của chủ thể buộc tội bao gồm tính độc lập, khách quan và trách nhiệm trong việc thực hiện chức năng buộc tội. Điều này có nghĩa là các chủ thể này phải hoạt động một cách công bằng, không thiên vị và phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Sự phân định rõ ràng giữa các chủ thể buộc tội và các chủ thể khác trong tố tụng hình sự là rất quan trọng để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quá trình xét xử. Việc nghiên cứu các đặc điểm này sẽ giúp làm rõ hơn vai trò của chủ thể buộc tội trong việc bảo vệ quyền lợi của bị hạibị cáo.

II. Thực trạng hoạt động của chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam

Thực trạng hoạt động của chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay cho thấy nhiều vấn đề cần được cải thiện. Các số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ oan sai trong các vụ án hình sự vẫn còn tồn tại, điều này cho thấy sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động của các chủ thể này. Cơ quan điều traViện kiểm sát cần phải có sự phối hợp chặt chẽ hơn trong việc thu thập và đánh giá chứng cứ. Việc áp dụng các quy định pháp luật hiện hành cũng cần được thực hiện một cách nghiêm túc và đồng bộ hơn. Đặc biệt, việc bảo vệ quyền lợi của bị cáo trong quá trình tố tụng cần được chú trọng hơn nữa để đảm bảo tính công bằng và minh bạch của hệ thống tư pháp.

2.1. Đánh giá quy định pháp luật về chủ thể buộc tội

Các quy định pháp luật hiện hành về chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể, tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập. Việc phân định rõ ràng giữa các chức năng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sátTòa án chưa được thực hiện một cách triệt để. Điều này dẫn đến sự chồng chéo trong hoạt động của các chủ thể này, ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình tố tụng. Cần có những sửa đổi, bổ sung để đảm bảo rằng mỗi chủ thể đều có thể thực hiện tốt chức năng của mình mà không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chủ thể buộc tội

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam, cần thực hiện một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần tăng cường đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ cho các cán bộ làm việc tại Cơ quan điều traViện kiểm sát. Thứ hai, cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các cơ quan này trong việc thu thập và xử lý chứng cứ. Cuối cùng, cần phải có các quy định pháp luật rõ ràng hơn về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể buộc tội, nhằm đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong quá trình tố tụng. Việc thực hiện các giải pháp này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của chủ thể buộc tội, từ đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi của bị cáobị hại.

3.1. Đề xuất các biện pháp cụ thể

Các biện pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả hoạt động của chủ thể buộc tội bao gồm việc cải cách quy trình tố tụng, tăng cường sự giám sát của các cơ quan chức năng đối với hoạt động của Cơ quan điều traViện kiểm sát. Cần thiết phải xây dựng một hệ thống thông tin liên lạc hiệu quả giữa các chủ thể này để đảm bảo thông tin được chia sẻ kịp thời và chính xác. Ngoài ra, việc áp dụng công nghệ thông tin trong quá trình điều tra và truy tố cũng sẽ giúp nâng cao hiệu quả công việc, giảm thiểu sai sót và đảm bảo tính chính xác trong việc thu thập chứng cứ.

06/02/2025
Luận án tiến sĩ luật học chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU LIEN QUAN DEN DE TAI LUAN AN 1. Tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án 1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước Trong thời gian vừa qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở Việt Nam dé cập tới các van đề liên quan tới CTBT từ các góc độ tiếp cận với mức độ và phạm vi khác nhau. Có thê chia các nghiên cứu thành những nhóm sau: 1.

Nhóm các công trình nghiên cứu về mô hình tô tụng, chức năng to tụng và một số nguyên tắc cơ bản của tô tụng hình sự Vấn đề chủ thể TTHS nói chung và CTBT nói riêng liên quan mật thiết đến những van dé chung của TTHS như mô hình tố tụng, chức năng tố tụng và một số nguyên tắc cơ bản của TTHS. Tại Việt Nam thời gian vừa qua đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về các vấn đề nêu trên và đã đạt được những thành tựu đáng trân trọng góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về mô hình tố tụng, các chức năng tố tung trong đó có CNBT, những nguyên tắc co bản của TTHS Việt Nam như nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc xác định sự thật vụ án, nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự. Đây là nền tảng, cơ sở cho việc tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu về CTBT trong TTHS. Về mô hình TTHS: Một trong những nghiên cứu tổng thê về TTHS Việt Nam là Đề tài độc lập cấp nhà nước của Viện khoa học kiểm sát VKSNDTC mã số ĐTĐL.2009G/13 "Những vấn đề ly luận và thực tiên về việc đổi mới thủ tục tổ tụng hình sự đáp ứng yếu cau cải cách tư pháp" thực hiện năm 2011.

Với mục tiêu tổng quát là tìm ra được các luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc d6i mới TTHS ở nước ta, Dé tài đã đề cập tới nhiều vấn đề lớn của TTHS như khái niệm TTHS, thủ tục TTHS, mục đích, nhiệm vụ của TTHS, các nguyên tắc cơ bản của TTHS, chức năng và mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản trong TTHS, chứng cứ và chứng minh trong TTHS, các mô hình TTHS. Liên quan tới CTBT, qua nội dung nghiên cứu của dé tài có thé thấy các van dé như: sự cần thiết phân loại các chủ thé TTHS theo các chức năng cơ bản của TTHS, các chủ thé TTHS trong mô hình tố tụng tranh tụng và mô hình tô tụng thâm van, trách nhiệm chứng minh của chủ thé thực hiện CNBT, mối quan hệ giữa CQĐT và VKS.Những kết quả nghiên cứu của Đề tài rất có ý nghĩa đối với việc tiếp tục nghiên cứu về CTBT trong luận án này. Vấn đề mô hình TTHS nói chung và mô hình TTHS Việt Nam nói riêng đã được bàn thảo trong nhiều Hội thảo khoa học lớn như: Hội thảo: "Mô hình Luật TTHS Việt Nam" do VKSNDTC tô chức tháng 12/2009 trong khuôn khổ Dự án Hỗ trợ cải cách pháp luật va tư pháp - Giai đoạn III; Hội thảo "Hoan thiện mô hình TTHS Việt Nam đáp ứng yêu câu cải cách tư pháp - Kinh nghiệm của CHLB Đức" do VKSNDTC tô chức ngày 9,10/6/2011; Hội thảo "M6 hình TTHS một số nước trên thế giới - kinh nghiệm đối với việc hoàn thiện mô hình TTHS Việt Nam" do Ủy ban Tư pháp cùa Quốc hội tổ chức ngày 15/11/2011. Đây cũng là vấn đề được nhiều tác giả nghiên cứu và đăng tải bài viết trên các tạp chí chuyên ngành như: bài viết "M6 hình TTHS Việt Nam- Những vấn dé lý luận và thực tiễn" của tác giả Nguyễn Thái Phúc đăng trên Tap chí Khoa học pháp lý số 5/2007; bài viết "M6t số vấn dé lý luận định hướng xây dựng mô hình TTHS Việt Nam trong bối cảnh cải cách tư pháp" của tác giả Nguyễn Trương Tín đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 15/2009; bài viết "Đặc điểm của mô hình TTHS tranh tụng và phương hướng hoàn thiện mô hình TTHS ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Đức Mai đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 23/2009; bài viết "Van dé tranh tụng và tăng cường tranh tụng trong TTHS theo yêu cẩu cải cách tư pháp" của PGS.

TS Nguyễn Thái Phúc đăng trên Tap chí Kiểm sát số 7/2009; bài viết "Tim hiểu mô hình tô tụng thẩm vấn và những kiến nghị hoàn thiện BLTTHS Việt Nam" của tác giả Lương Thị Mỹ Quỳnh đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý số 6/2010; bài viết "TTHS Việt Nam can được đổi mới và hoàn thiện theo hướng nào?" của GS.TSKH Đào Trí Úc đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 15/2011; bài viết "M6 hình TTHS và vấn dé xác định quyên, nghĩa vụ của các chủ thể trong TTHS" của tác giả Nguyễn Thị Thủy đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 09/2012; bài viết "Hoàn thiện mô hình TTHS Việt Nam theo yêu cau cải cách tu pháp" của TS. Lê Hữu Thé và ThS. Nguyễn Thị Thủy đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 18/2010; bài viết "Mộ số vấn dé can nghiên cứu, tham khảo từ mô hình TTHS Singapore" của tác giả Nguyễn Thị Thu Quy đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 17/2013. Các bài viết nêu trên nghiên cứu về mô hình TTHS và đề xuất giải pháp hoàn thiện mô hình TTHS Việt Nam dưới nhiều góc độ khác nhau từ lý luận, thực tiễn, so sánh pháp luật.song it nhiều đều đề cập tới yêu cầu tăng cường yếu tố tranh tụng trong mô hình TTHS Việt Nam và yêu cầu tách bạch giữa các chức năng TTHS, các chủ thể thực hiện các chức năng cơ bản của TTHS như một điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong TTHS.

Ngoài các Hội thảo khoa học và bài viết trên tạp chí chuyên ngành, vấn đề mô hình TTHS đã được nghiên cứu chuyên sâu trong Dé án "M6 hình TTHS Việt Nam" của VKSNDTC năm 2012 và luận án tiến sĩ luật học "M6 hình TTHS Việt Nam và vấn dé áp dung to tụng tranh tụng" (2014) của tác giả Nguyễn Thị Thủy. Theo các nghiên cứu chuyên sâu này thì mô hình TTHS, theo cách hiểu chung nhất, là sự khái quát cao những đặc trưng cơ bản, phổ biến, phan ánh cách thức tô chức hoạt động TTHS, cách thức tim đến sự thật khách quan của vụ án. Cách thức tô chức này quyết định địa vị tố tụng của các chủ thể trong quá trình thực hiện các chức năng cơ bản của TTHS (CNBT, chức năng bào chữa và chức năng xét xử). Đánh giá về mô hình tố tụng Việt Nam hiện tại, tác giả Nguyễn Thị Thủy khang định mô hình TTHS nước ta là mô hình tố tụng pha trộn thiên về thâm vẫn và một trong những hạn chế của mô hình TTHS Việt Nam là còn những bất cập trong phân định nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thé thực hiện CNBT.

Các nghiên cứu chuyên sâu đã đề xuất một trong những phương hướng và nội dung hoàn thiện mô hình TTHS Việt Nam là việc phân định hợp lý quyên, nghĩa vụ của các chủ thể cho phù hợp với các chức năng cơ bản của TTHS, đưa các chủ thé về đúng vị trí, vai trò tố tụng của mình. Về chức năng trong TTHS, trong những năm gần đây, van đề chức năng trong TTHS ngày càng được quan tâm nghiên cứu; phân định rõ các chức năng trong TTHS là một trong những định hướng quan trọng dé hoàn thiện các quy định của BLTTHS. Những nghiên cứu về chức năng TTHS, cụ thé là CNBT, là nền tang lý luận quan trọng và là nội dung không thê tách rời khi nghiên cứu về CTBT trên nguyên lý mỗi chức năng cơ bản của TTHS sẽ được thực hiện bởi một hoặc một số chủ thê nhất định, một chủ thể không thê đồng thời thực hiện hai chức năng cơ bản 10 trong TTHS. Có thé ké tới một số bài viết về chức năng của TTHS nói chung va CNBT nói riêng như bài viết “Các chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử trong TTHS" của tác gia Hoàng Thị Sơn đăng trên Tap chí Luật hoc số 2/1998: "Mot số van đề về chức năng buộc tội" của tác giả Lê Tién Châu đăng trên Tạp chi Khoa học pháp ly số 3/2003; "Những chức năng cơ bản trong TTHS" của PGS.TS Nguyễn Thái Phúc đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 12/2005; "Hoan thiện các chức năng TTHS trong tiễn trình cải cách tư pháp ở nước fa" của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 9/2008; "Mot số vấn dé lý luận về chức năng buộc tội trong TTHS và vấn dé sửa đối, bố sung BLTTHS năm 2003 liên quan đến chức năng buộc tội" của tác giả Nguyễn Trương Tín đăng trên Tap chí Nhà nước và Pháp luật số 8/2009; “Mộ số ý kiến về chức năng của TTHS trong việc quy định chủ thé hoạt động khởi tô và xử lý vụ án hình sự" của tác giả Lê Lan Chi đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 15/2010.

Các bài viết này đã đề cập tới các chức năng của TTHS và tuy còn nhiều khác biệt nhưng các tác giả đều thống nhất về ba chức năng cơ bản của TTHS là CNBT, chức năng bào chữa (gỡ tội) và chức năng xét xử. Các chức năng này tồn tại một cách khách quan trong tất cả các mô hình tố tụng. Riêng về CNBT, các bài viết đề cập tới những quan điểm khác nhau về khái niệm, nội dung, thời điểm xuất hiện CNBT; các chủ thé thực hiện CNBT trong đó đáng chú ý là những quan điểm khác biệt về buộc tội (khái niệm buộc tội có đồng nhất với khái niệm công tố hay không?.), về thời điểm xuất hiện CNBT (từ khi khởi tố bị can hay sớm hơn, khi có người bị tạm giữ, hay chỉ xuất hiện ở giai đoạn xét xử sơ thâm tại phiên tòa) và về CTBT (chỉ có VKS hay VKS, CQDT, người bị hại. Tiếp cận từ góc độ CNBT, các bài viết về cơ bản đều đề xuất cần sửa đổi, bổ sung BLTTHS theo hướng thể hiện được sự tách bạch và phân định các chức năng cơ bản trong TTHS, nhất là tách bạch triệt dé giữa CNBT với chức năng xét xử; xác định rõ các chủ thể thực hiện CNBT trong TTHS Việt Nam.

Nghiên cứu chuyên khảo ở cấp độ luận án tiến sĩ về chức năng tố tụng có thể kế tới luận án "Chức năng xét xử trong TTHS Việt Nam" (2008) của tác giả Lê Tiến Châu và luận án “Các chức năng trong TTHS Việt Nam: Những vấn dé lý luận và mm thực tiên" (2012) của tac giả Nguyễn Mạnh Hùng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam: Nghiên cứu luận án tiến sĩ luật học" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò và trách nhiệm của các chủ thể buộc tội trong hệ thống tố tụng hình sự tại Việt Nam. Tác giả phân tích các quy định pháp lý hiện hành, đồng thời chỉ ra những thách thức và bất cập trong việc thực thi quyền buộc tội. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về quy trình tố tụng mà còn nêu bật tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan trong vụ án hình sự.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề pháp lý liên quan, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu như Luận văn thạc sĩ luật học vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm bảo vệ quyền con người ở việt nam hiện nay, nơi bàn về vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ quyền con người, hay Luận văn thạc sĩ luật học áp dụng án lệ ở việt nam hiện nay, giúp bạn hiểu rõ hơn về việc áp dụng án lệ trong thực tiễn. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận văn thạc sĩ luật học biện pháp ngăn chặn tạm giam và thực tiễn thi hành tại thành phố hà nội, để có cái nhìn tổng quát hơn về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về hệ thống pháp luật và tố tụng tại Việt Nam.