Tổng quan về luận án

Công trình nghiên cứu tiến sĩ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật (Mã số: 9380101.01) của tác giả Nguyễn Thị Thế, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh tại Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2023), mang tiêu đề: "Hoàn thiện pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hành chính". Nghiên cứu được đặt trong bối cảnh đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) và triển khai Chiến lược cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW, Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, và nguyên tắc hiến định tại Điều 2 Khoản 3 Hiến pháp năm 2013: “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi xuất phát từ thực tiễn: mặc dù Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) giữ vị trí then chốt trong kiểm soát quyền tư pháp, nhưng các quy định pháp luật điều chỉnh thẩm quyền của VKSND trong tố tụng hành chính (TTHC) từ Luật TTHC năm 2010 đến Luật TTHC năm 2015 còn tồn tại nhiều điểm mâu thuẫn, thiếu cơ chế bảo đảm thi hành, dẫn đến sự suy giảm hiệu lực giám sát tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện.

Nghiên cứu giải quyết 03 câu hỏi nghiên cứu và xác lập 03 giả thuyết khoa học:

  • H1: Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong TTHC bị chi phối trực tiếp bởi tính chất thể chế và nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước; cơ chế kiểm sát tư pháp hành chính là công cụ trọng yếu để bảo vệ quyền con người, quyền công dân trước sự lạm quyền hành chính.
  • H2: Hệ thống pháp luật thực định giai đoạn 1996–2022 (trọng tâm 2016–2022) bộc lộ sự bất cập về phương thức kiểm sát, giới hạn quyền thu thập chứng cứ và sự thiếu hụt chế tài cưỡng chế thi hành án hành chính (THAHC).
  • H3: Việc tái cấu trúc thẩm quyền VKSND theo hướng mở rộng quyền khởi kiện vụ án hành chính vì lợi ích công và nâng cao hiệu lực kháng nghị là điều kiện tiên quyết để đảm bảo tính tối thượng của pháp luật.

Khung lý thuyết tích hợp học thuyết Mác – Lênin về pháp chế XHCN, lý thuyết kiểm soát quyền lực nhà nước (Checks and Balances), lý thuyết quản trị hành chính công của Peter Cane (2011) và lý thuyết tư pháp hành chính bảo vệ quyền con người (Nguyễn Hoàng Anh, 2010, 2013). Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu thực tiễn 63 tỉnh, thành phố và 03 VKSND cấp cao tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh trong khung thời gian 27 năm (1996–2023), tạo nền tảng định lượng và định tính cho các cải cách lập pháp đột phá.

Literature Review và Positioning

Tổng quan y văn quốc tế và trong nước phản ánh 03 dòng nghiên cứu chính:

Dòng thứ nhất tập trung vào cơ cấu quyền lực nhà nước và cơ chế kiểm soát quyền tư pháp. Các học giả như Đào Trí Úc và Võ Khánh Vinh (2008), Nguyễn Minh Đoan (2010, 2013), Trần Ngọc Đường (2012), Nguyễn Đăng Dung (2014) khẳng định kiểm sát tư pháp là mắt xích không thể tách rời của nhà nước pháp quyền. Tranh luận học thuật lớn tồn tại giữa hai trường phái:

  • Trường phái thứ nhất ủng hộ duy trì mô hình VKSND với chức năng kép (công tố và kiểm sát tư pháp toàn diện) nhằm ngăn ngừa sự tha hóa quyền lực (Lê Hữu Thể, 2006; Lâm Quốc Tuấn, 2015).
  • Trường phái thứ hai đề xuất chuyển dịch hoàn toàn sang mô hình Viện Công tố thuần túy theo chuẩn mực phương Tây, thu hẹp quyền can thiệp vào các tranh chấp dân sự, hành chính để bảo đảm triệt để nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án (Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Chu Dương, 2008).

Dòng thứ hai nghiên cứu kỹ năng, quyền hạn chuyên biệt của Kiểm sát viên trong tố tụng và thi hành án. Các công trình của Nguyễn Ngọc Duy (2012), Phùng Thanh Hà (2014), Đặng Minh Phượng (2013) phân tích chuyên sâu về mặt kỹ thuật lập pháp nhưng chưa xây dựng được hệ tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật.

Dòng thứ ba là nghiên cứu so sánh quốc tế. Nghiên cứu của Chunyan Ding (2022) và Yueduan Wang & Ying Xia (2022) về "Procuratorate-initiated Administrative Public Interest Litigation in China" chỉ ra vai trò đột phá của Viện kiểm sát Trung Quốc trong việc đại diện cho lợi ích công để khởi kiện chính quyền địa phương trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường. Ngược lại, báo cáo của Global Delivery Initiative (2015) về cải cách tư pháp tại ba nước Nam Caucasus (Georgia, Armenia, Azerbaijan 1999–2015) cho thấy xu hướng hạn chế quyền hạn Viện kiểm sát theo mô hình tư pháp hành chính châu Âu lục địa, phân tách rạch ròi thẩm quyền giữa cơ quan công tố và hệ thống Tòa án hành chính độc lập.

Vị trí nghiên cứu của luận án được định vị tại giao điểm then chốt: Luận án là công trình khoa học toàn diện đầu tiên giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu "tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước" với "bảo đảm nguyên tắc độc lập xét xử", định hình rõ nét thẩm quyền kiểm sát tư pháp hành chính tại Việt Nam trong mối tương quan với các chuẩn mực quốc tế.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án làm sáng tỏ và phát triển học thuyết V.I. Lênin về "Song trùng trực thuộc và pháp chế" trong điều kiện chuyển đổi số và cải cách tư pháp hiện đại. Nghiên cứu luận giải sâu sắc nhận định: “thiết chế VKSND ở nước ta có tính chất lưỡng tính: vừa là một thiết chế có chức năng giám sát quyền lực, vừa là cơ quan bảo vệ pháp luật...”.

Đóng góp lý thuyết của luận án thể hiện ở việc tái định nghĩa bản chất pháp lý của hoạt động kiểm sát TTHC: không phải là sự can thiệp hành chính vào hoạt động xét xử, mà là cơ chế bảo hiến và bảo vệ trật tự pháp luật công (public legal order). Nghiên cứu mở rộng lý thuyết quyền con người của PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh (2013), chứng minh rằng mở rộng thẩm quyền thu thập chứng cứ và khởi kiện công ích của VKSND chính là công cụ cân bằng thế bất đối xứng quyền lực giữa người dân và cơ quan công quyền trong các vụ kiện hành chính.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích được xây dựng trên sự tích hợp đa chiều của 03 trường phái lý thuyết:

  1. Lý thuyết Pháp chế XHCN: Khẳng định tính thống nhất và tối cao của pháp luật trong toàn bộ lãnh thổ.
  2. Lý thuyết Quản trị Hành chính Công (Peter Cane, 2011): Tiếp cận luật hành chính dưới góc độ kiểm soát tính hợp pháp của các hành vi công vụ.
  3. Lý thuyết Tư pháp Hành chính Hiện đại: Xem xét quyền tiếp cận công lý là quyền cơ bản của công dân.

Luận án xác lập hệ thống 05 tiêu chí khoa học đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về thẩm quyền VKSND trong TTHC:

  • Tiêu chí 1 (Tính toàn diện): Mức độ bao quát của quy phạm pháp luật qua tất cả các giai đoạn (thụ lý, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm/tái thẩm, và thi hành án).
  • Tiêu chí 2 (Tính đồng bộ, thống nhất): Sự tương thích giữa Luật TTHC năm 2015, Luật Tổ chức VKSND năm 2014, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Tiêu chí 3 (Tính khả thi và cơ chế bảo đảm): Sự rõ ràng của chế tài, thời hạn tố tụng và công cụ xác minh chứng cứ thực tế của Kiểm sát viên.
  • Tiêu chí 4 (Tính hiệu quả trong kiểm soát quyền lực): Tỷ lệ phát hiện vi phạm, tỷ lệ kháng nghị được Tòa án chấp nhận và tác động chấn chỉnh vi phạm quản lý hành chính.
  • Tiêu chí 5 (Tính hội nhập và tương thích quốc tế): Mức độ tiếp thu các chuẩn mực tố tụng tiến bộ về bảo vệ lợi ích công cộng và minh bạch tư pháp.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng lập trường bản thể luận hiện thực phản biện (Critical Realism) và nhận thức luận duy vật biện chứng, kết hợp phân tích chuẩn tắc pháp lý (Legal Positivism) với xã hội học pháp luật thực nghiệm. Thiết kế nghiên cứu đa tầng (Multi-level embedded design) tiếp cận từ cấp độ thể chế vĩ mô (chủ trương của Đảng, Hiến pháp 2013) đến cấp độ quy phạm trung mô (Luật TTHC, Thông tư liên tịch) và cấp độ vi mô (thực tiễn hồ sơ kiểm sát, hành vi tố tụng của Kiểm sát viên).

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu trải qua 04 giai đoạn nghiêm ngặt:

  • Giai đoạn 1 (Thu thập văn bản quy phạm): Lập danh mục và giải mã 48 văn bản quy phạm pháp luật từ năm 1996 đến năm 2022 (Pháp lệnh năm 1996, 1998, 2006; Luật TTHC năm 2010, 2015; các Chỉ thị của Viện trưởng VKSND tối cao).
  • Giai đoạn 2 (Dữ liệu thống kê ngành): Trích xuất và chuẩn hóa bộ dữ liệu thống kê nghiệp vụ chính thức từ VKSND tối cao, Báo cáo công tác của Viện trưởng VKSND tối cao trước Quốc hội từ kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XIV đến kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa XV.
  • Giai đoạn 3 (Quan sát thực địa và phân tích án lệ): Trực tiếp theo dõi, phân tích chuyên sâu 120 hồ sơ vụ án hành chính điển hình (trọng tâm là tranh chấp đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng, thu hồi dự án) tại TAND và VKSND cấp tỉnh thuộc 03 miền.
  • Giai đoạn 4 (Tam giác đạc dữ liệu - Triangulation): Kiểm định chéo giữa số liệu thống kê định lượng, ý kiến chuyên gia tư pháp và kết quả xét xử thực tế để loại trừ sai lệch chủ quan.

Data và phân tích

Dữ liệu định tính được phân tích thông qua mã hóa cấu trúc (Thematic Coding) bằng phần mềm chuyên dụng hỗ trợ xử lý dữ liệu khoa học xã hội MAXQDA, phân loại các nhóm lỗi vi phạm tố tụng của Tòa án và cơ quan hành chính.

Dữ liệu thống kê kiểm sát giai đoạn 2016–2022 phản ánh quy mô mẫu bao gồm hàng chục nghìn vụ án hành chính được thụ lý trên toàn quốc. Các chỉ số được kiểm định tính nhất quán và phân tích biến thiên giữa các năm, đặc biệt là tỷ lệ kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm của VKSND được Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận (đạt tỷ lệ trung bình từ 72,5% đến 81,4% qua các năm), phản ánh vai trò của kiểm sát tư pháp trong việc phát hiện và khắc phục các sai sót nghiêm trọng của bản án sơ thẩm.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Thứ nhất, nhận diện điểm nghẽn nghiêm trọng về thẩm quyền thu thập chứng cứ của VKSND. Khoản 3 Điều 93 Luật TTHC năm 2015 quy định VKSND chỉ có quyền yêu cầu Tòa án hoặc đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ khi tiến hành kiểm sát giải quyết vụ án; VKSND chỉ trực tiếp xác minh, thu thập chứng cứ trong trường hợp kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Thực tế cho thấy có tới 38,6% các kiến nghị, yêu cầu chuyển hồ sơ của Kiểm sát viên bị kéo dài hoặc không được phản hồi kịp thời trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, dẫn đến việc VKSND bị động khi tham gia đối tụng tại phiên tòa.

Thứ hai, khoảng trống pháp lý từ việc bãi bỏ quyền khởi kiện vụ án hành chính của VKSND. Kể từ khi Luật TTHC năm 2010 và Luật TTHC năm 2015 thay thế Pháp lệnh năm 1996, VKSND không còn quyền khởi tố vụ án hành chính để bảo vệ lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước. Nghiên cứu thực nghiệm chứng minh điều này tạo ra "vùng trũng trách nhiệm" trong các vi phạm quản lý đất đai, môi trường và tài sản công nơi người dân không trực tiếp bị thiệt hại hoặc không dám khởi kiện người có thẩm quyền.

Thứ ba, sự thiếu hiệu lực mang tính hệ thống trong kiểm sát thi hành án hành chính. Mặc dù Điều 315 Luật TTHC năm 2015 quy định VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong THAHC, nhưng các biện pháp kiểm sát chỉ dừng lại ở quyền "kiến nghị" mà không có chế tài xử lý trực tiếp. Tỷ lệ bản án hành chính đã có hiệu lực pháp luật chưa được cơ quan hành chính thi hành dứt điểm còn tồn đọng hàng năm từ 15% đến 22%, làm xói mòn nghiêm trọng tính tôn nghiêm của phán quyết tư pháp. Đúng như nghiên cứu của Trường Đại học Luật - ĐHQGHN (2012) từng chỉ ra: “để giúp cho VKSND thuận tiện hơn trong việc kiểm sát việc thi hành án... theo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, VKSND cần được trao quyền xem xét, khởi tố những hành vi cố tình không chấp hành bản án của Tòa án theo quy định của Bộ luật hình sự”.

Thứ tư, bất cập trong thủ tục xử lý việc trả lại đơn khởi kiện. Thực tiễn áp dụng Điều 123 và Điều 124 Luật TTHC năm 2015 cho thấy cơ chế thông báo và chuyển đơn khiếu nại việc trả lại đơn khởi kiện sang VKSND còn thiếu quy định chặt chẽ về thời hạn giao nhận tài liệu, làm hạn chế quyền tiếp cận công lý của đương sự ngay từ giai đoạn tiền xét xử.

Implications đa chiều

  • Hàm ý lập pháp: Đề xuất sửa đổi, bổ sung trực tiếp các điều khoản trong Luật TTHC năm 2015 (Điều 84, Điều 93, Điều 123, Điều 262, Điều 315) và Luật Tổ chức VKSND năm 2014 nhằm hoàn thiện khung pháp lý về nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát tư pháp hành chính.
  • Hàm ý thể chế: Khôi phục thẩm quyền khởi kiện vụ án hành chính vì lợi ích công của VKSND, thiết lập mô hình tương thích với thực tiễn thành công của Viện kiểm sát Trung Quốc (Chunyan Ding, 2022), tạo công cụ kiểm soát quyền lực hữu hiệu đối với các quyết định hành chính quy chuẩn và cá biệt.
  • Hàm ý thực thi công vụ: Thiết lập quy chế phối hợp bắt buộc giữa TAND, VKSND và Ủy ban nhân dân các cấp; chuẩn hóa quy trình số hóa hồ sơ kiểm sát và tăng cường đào tạo chuyên sâu kỹ năng tranh tụng hành chính cho đội ngũ Kiểm sát viên.

Limitations và Future Research

Nghiên cứu thẳng thắn nhìn nhận 03 giới hạn khoa học:

  1. Giới hạn tiếp cận dữ liệu mật: Các số liệu về xử lý kỷ luật nội bộ cán bộ hành chính vi phạm pháp luật tố tụng chưa được công khai đầy đủ, dẫn đến việc phân tích định lượng nguyên nhân chủ quan còn mang tính ước lượng.
  2. Ranh giới ngữ cảnh thể chế: Các đề xuất lập pháp được xây dựng dựa trên đặc thù mô hình tổ chức quyền lực của Việt Nam (tập quyền XHCN có phân công, phối hợp và kiểm soát), do đó khả năng ngoại suy sang các quốc gia áp dụng mô hình tam quyền phân lập tuyệt đối (Separation of Powers) có những hạn chế nhất định.
  3. Độ trễ thời gian của dữ liệu thi hành án: Số liệu thống kê thi hành án hành chính giai đoạn 2021–2022 chịu sự tác động gián đoạn cục bộ bởi đại dịch COVID-19.

Chương trình nghiên cứu tiếp theo (Future Research Agenda) cần tập trung vào:

  • Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và Big Data trong tự động phát hiện vi phạm tư pháp từ các bản án hành chính công khai.
  • Đánh giá tác động kinh tế – xã hội của việc trao quyền khởi kiện công ích cho VKSND trong lĩnh vực bảo vệ dữ liệu cá nhân và an ninh mạng.
  • Nghiên cứu mô hình Tòa án Hành chính độc lập theo khu vực kết hợp cơ chế kiểm sát tư pháp chuyên trách.

Tác động và ảnh hưởng

Luận án mang lại giá trị tác động sâu rộng trên cả 03 phương diện:

  • Học thuật: Cung cấp hệ thống luận cứ khoa học hoàn chỉnh và khung tiêu chí 05 điểm đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về VKSND trong TTHC, làm giáo trình và tài liệu tham khảo cốt lõi tại các cơ sở đào tạo luật (Trường Đại học Luật – ĐHQGHN, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Học viện Tư pháp). Ước tính công trình tạo nguồn trích dẫn quan trọng cho các nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành tư pháp.
  • Chính sách và Lập pháp: Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn trực tiếp cho Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp Trung ương, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội và VKSND tối cao trong quá trình sửa đổi Luật TTHC năm 2015 và Luật Tổ chức VKSND năm 2014.
  • Xã hội: Góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự công minh của nền tư pháp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hàng triệu đương sự trong các khiếu kiện hành chính phức tạp.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giới học thuật: Tiếp cận cơ sở dữ liệu thực chứng 27 năm, khung lý thuyết tích hợp và các khoảng trống nghiên cứu mới mở ra.
  • Cơ quan Lập pháp (Quốc hội): Nhận được các dự thảo sửa đổi điều luật cụ thể kèm đánh giá tác động chi tiết (Regulatory Impact Assessment).
  • Ngành Kiểm sát nhân dân: Đội ngũ Kiểm sát viên các cấp được cung cấp bộ công cụ kỹ năng, quy trình kiểm sát thực tiễn từ khâu thụ lý đến khâu thi hành án.
  • Công dân và Doanh nghiệp: Hưởng lợi từ một cơ chế bảo vệ tư pháp minh bạch, nơi các hành vi hành chính trái pháp luật được phát hiện, kháng nghị và đình chỉ kịp thời.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Đó là việc luận giải thành công tính tương thích giữa học thuyết V.I. Lênin về Pháp chế XHCN với nguyên tắc kiểm soát quyền lực nhà nước hiện đại, giải quyết triệt để cuộc tranh luận về tính chất "lưỡng tính" của VKSND. Luận án khẳng định kiểm sát tư pháp hành chính là dạng giám sát quyền lực từ bên ngoài mang tính quyền lực nhà nước, vừa phối hợp vừa chế ước hoạt động xét xử của Tòa án nhằm bảo đảm tính thượng tôn của pháp luật.

2. Đột phá phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây? So với các nghiên cứu đơn tuyến trước đây (chỉ phân tích quy phạm hoặc khảo sát một địa phương hạn chế như Trần Thị Thu Hà 2014 tại Hải Phòng), luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu đa tầng kết hợp phân tích chuẩn tắc pháp lý với phân tích dữ liệu thực chứng quy mô quốc gia (63 tỉnh, thành phố, 03 VKSND cấp cao) trong chuỗi thời gian 27 năm, sử dụng kỹ thuật tam giác đạc dữ liệu để bảo đảm độ tin cậy tuyệt đối.

3. Phát hiện thực nghiệm nào gây bất ngờ nhất? Phát hiện về sự bất lực của chế tài kiểm sát THAHC: Mặc dù VKSND ban hành hàng trăm kiến nghị mỗi năm nhưng có tới gần 20% bản án hành chính bị cơ quan hành chính trì hoãn thi hành kéo dài nhiều năm mà không có bất kỳ cá nhân lãnh đạo nào bị xử lý hình sự theo Điều 380 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội "Không chấp hành án", bộc lộ sự thiếu vắng nghiêm trọng của cơ chế cưỡng chế tư pháp đối với chủ thể quyền lực công.

4. Luận án có cung cấp giao thức tái lập (Replication Protocol) không? Có. Toàn bộ khung 05 tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật, cấu trúc mã hóa dữ liệu MAXQDA và các biểu mẫu phân tích hồ sơ kiểm sát vụ án hành chính được chuẩn hóa chi tiết trong phần phụ lục, cho phép các nhà nghiên cứu độc lập tái lập và kiểm chứng trong các nghiên cứu tương lai.

5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm (2023–2033) được định hình ra sao? Tập trung vào 03 trọng tâm: (1) Thể chế hóa quyền khởi kiện công ích của VKSND trong bối cảnh phát triển bền vững; (2) Chuyển đổi số toàn diện quy trình kiểm sát hoạt động tư pháp; (3) Tích hợp các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA) vào chuẩn mực xét xử tranh chấp hành chính giữa nhà nước và nhà đầu tư.

Kết luận

Luận án của NCS Nguyễn Thị Thế đã thực hiện một bước tiến học thuật xuất sắc với các đóng góp cụ thể:

  1. Xác lập hệ thống cơ sở lý luận vững chắc về vị trí, vai trò của VKSND trong kiểm soát quyền tư pháp hành chính tại Việt Nam.
  2. Xây dựng bộ tiêu chí 05 điểm khoa học đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong TTHC.
  3. Đánh giá toàn diện thực trạng quy định và thực tiễn thi hành pháp luật giai đoạn 1996–2022, định lượng hóa các điểm nghẽn về thu thập chứng cứ và thi hành án.
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp đồng bộ, bao gồm việc sửa đổi các điều khoản then chốt của Luật TTHC năm 2015 và Luật Tổ chức VKSND năm 2014.
  5. Kiến nghị khôi phục thẩm quyền khởi kiện vụ án hành chính vì lợi ích công của VKSND, tạo bước đột phá trong kiểm soát quyền lực nhà nước và bảo vệ quyền con người.
  6. Mở ra các hướng nghiên cứu liên ngành mới giữa tư pháp hành chính, công nghệ số và quản trị công hiện đại, đóng góp thiết thực vào công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong kỷ nguyên mới.