mở đầu khác nhau để kìm hãm ngành tư pháp của họ. Mặc dui Hiến pháp của Ucraina tuyên bố rằng các toà án độc lập, nhưng các quan toà lại phụ thuộc phần lớn vào éhé co quan hanh phap dia phương về nhà ở của họ. Những quan toà nào chống lại các quan chức địa phương thì rất có khả năng bị kéo dài thời hạn được cung cấp nhà ở." Nhìn lại phiên sơ thâm của vụ án cấp đất của Thị xã Đồ sơn 28/8/ 2006 vừa qua, mới được nghe qua đài và truyền hình, tôi cứ nghĩ là một sự xi nhục hay lăng mạ nào đó từ phía toà án đối với dư luận. Nhưng nghĩ lại thì hoàn toàn không phải như vậy, mà lại còn hoàn toàn thông cảm với toà án.
Bởi lẽ một nguyên nhân sâu xa rằng, có lẽ nguyên tắc độc lập của toà án khi xét xử chưa có, thể trở thành trên thực tế của Việt Nam chúng ta chăng? Hoặc là nguyên tắc độc lập của toà án chưa có đủ các điều kiện bảo đảm cho nó thực hiện trên thực tế. Có lẽ đúng như vậy chăng? Một khi toà án vẫn còn thành lập và hoạt động theo các đơn vị hành chính lãnh thổ và với nguyên tắc tập quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước, mặc dù đã có sự phân công, phâr. nhiệm cùng với nguyên tắc Đảng lãnh đạo toàn điện thông qua các cấp uỷ địa phương, thì nguyên tắc trên rất khó có đường nào để. Quan điểm của tôi có lẽ rất khác với mọi người cứ nại ra rằng Toà án độc khi xét xử theo quy định của Hiến pháp là đủ.
Hơn nữa chủ toạ phiên toà sơ thâm nói trên lại là Phó Chánh án Toà án Hải phòng, người có được chức vụ nói trên không thé không có sự đồng ý của cấp uỷ địa phương. 4 ˆ ` RA see ` ` , ok A ras ` “ Xem, Ngan hàng thé giới: Báo cáo tình kình phát triển thê giới nšm 1997/ Nhà nước trong một thé giới dang ^ A eee chuyên đôi, NXB Chih ij aude gia, Hà Nội 1998, tr. 14 Hội thảo khoa học: 7iép tục cảicách: tổchức vả hoat động của hệ thống Toa án nhân dân và Viên kiếm sát nhân dân theo tính thần Nghị quyết Đai hôi X của Đảng Điều còn đáng phải nói ở đây nữa là khi trả lời phóng vấn trên Đài truyền hình, thay mặt cho Uỷ ban Nhân dân thành phố Hải phòng ông Phó Chủ tịch. UBND thành phố rất thản nhiên trả lời rằng: Vẫn biết là toà án có quyền xét xử độc lập, nhưng vẫn gửi công văn sang cho toà án.
Không biết UBND đã gửi bao nhiêu công văn sang toà án, và bao nhiêu đã có tác dụng? Những hiện tượng nói trên càng chứng tỏ rằng nguyên tắc trên không có những bảo đảm tương xứng trên thực tế kèm theo. ặc dù nhiệm kỳ thâm phán được bổ nhiệm 5 năm, cùng các đảm bảo vật chất với mức lương cao hơn kèm theo, nhưng vẫn chưa thực sự tương xướng với lao động nặng nhọc, và đòi hỏi rất nhiều kinh nghiệm chuyên môn lẫn cả các kinh nghiệm sống, cùng với phẩm hạnh đạo đức của thâm phán, và vốn kiến thức chuyên môn mà thâm phán cần phải tích luỹ, nên vẫn chưa thu hút những người tài năng và phẩm chất cao vào ngành tư pháp, án xử oan sai vẫn còn là hiện tượng không ít. Người Việt Nam chúng ta vẫn còn mang nặng tư tưởng cũ, mâu thuẫn thì van xẩy ra, thậm chí còn là nhiều hơn, nhưng vẫn ngại đến toà án, vẫn còn có không ít những trường hợp tự xử theo kiểu mông muội. Khắc phục nhận thức - này phải có một cuộc giáo dục lâu dài cho nhân dân hiểu được vị trí vai trò của Toà án tư pháp không chỉ là phán sự những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, vi phạm đạo đức nhân phẩm, mà còn ca những tránh chấp thường nhật không mảy may có sự xâm hại nào đến đạo đức và nhân phẩm con người.
Đến toà án là trước hết là tìm đến công lý, mà không phải là một sự sỉ nhục. Chúng ta phải nhanh chóng thay đổi nhận thức này trong nhân gian. Nếu không như vậy, thì người ngay thắng lẫn kẻ gian tà đều hoà làm một, vô hình dung chúng ta đã ủng hộ kẻ gian tà, mà giết chết đi một sự ngay thắng chân chính. Trong tất cả các cuộc làm ăn kinh tế với người Mỹ thường xây ra tranh chấp, thì người Mỹ là người hay nhanh chân chạy đến toà nhất.
Nhiều người ở nước khác cho rằng, Mỹ là đất nước mắt nhiều thời gian và tiền bạc nhất cho việc giải quyết tranh 15 Hội thảo khoa học: 7iép tục cải cách tổ chức và jwat động của hề thông Toà án nhân dan va Viện kiêm sát nhân dân theo tinh thần Nghị quyết Đai hôi X của Dang chap trén toa. Đúng là như vậy, nhưng qua đó mà họ sẽ được hưởng những sản phẩm hoàn thiện hơn. Xã hội càng phát triển, thì lại càng đòi hỏi cao hơn đối với hiệu quả xét xử của các cấp tư pháp. Trong tương lai không xa các hoạt động của các cơ quan lập pháp và cả hành pháp cũng phải đặt trong vòng xét xử của toà án.
Khác với thời kỳ của chiến tranh, cũng như bao cấp, tư pháp chỉ được xem xét như là một trong các ban ngành như các bộ của hành pháp, vì nó chỉ được hiểu là một trong những lĩnh vực cần quản lý của nhà nước như các lĩnh vực ban ngành khác mà thôi, mà phải là một ngành độc lập có khả năng xét xử cả các hành vi của lập pháp và hành pháp. Một xã hội thịnh vượng và bén vững cần phải có một nền tư pháp mạnh. Cái mà chúng ta chưa từng có trong lịch sử cũng như hiện tại, mà lại rât cân cho tương lai. Hội thảo khoa học: 7iép tục cải cách tổ chức và hoat đông của hé thông toa án nhân dân và viên kiểm sát nhân dan theo tinh thân Nahi quyết Đai hôi X của Đảng "HỆ THÓNG TOA ÁN VIỆT NAMˆ TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH TƯ PHÁP HIỆN NAY _ Tiến sỹ.
Tô Văn Hòa Khoa Hành Chính— Nhà Nước _ Khi Công Cuộc C Đổi Mới được Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng và thực - hiện từ năm 1986, một nhu cầu đã được đặt ra là “thực hiện một cuộc cải cách: lớn về tổ chức bộ máy của các cơ quan Nhà nước.”' Trên tinh thần đó, toàn bộ bộ máy nhà nước cần được cải cách và đổi mới để phù hợp với những nhiệm vụ và nhu cầu do Công Cuộc Đổi Mới đặt ra. Quá trình đổi mới các cơ quan trong bộ máy nhà nước Việt Nam, mà hệ thống tòa án nói riêng và các cơ quan tư pháp nói chung là những bộ phận cấu thành, kế từ đó cho đến nay là một quá trình được thực hiện dần dần, từng bước, liên tục, có tích lũy, tông kết kinh _nghiệm, hình thành chiến lược và đarig trong quá trình tiếp tục được tiến hành. Điều này, như trình bày trong những phân tích dưới đây, được thể hiện rất rõ qua quá trình thực hiện công cuộc cải cách tư pháp. Bài viết này trình bày khái quát về quá trình cải cách hệ thống tòa án Việt Nam vol mục đích làm rõ bối cảnh của quá trình đó trong bức tranh chung của công cuộc cải cách bộ máy nhà nước Việt Nam, tình hình hiện tại của quá trình đó thể hiện qua tô chức, hoạt động của hệ thống tòa án hiện hành và xu hướng tiếp tục quá trình này.
Bài viết được chia làm ba phần, phần thứ nhất tập trung vào bối cảnh chung của - quá trình cải cách hệ thống tòa án hiện hành của Việt Nam thể hiện qua tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam thời kỳ từ sau Đổi Mới đến trước năm 2002, tức là năm ban hành luật tổ chức tòa án hiện hành. Phan thứ hai phân tích tình hình hiện tại của. quá trình cải cách hệ thống tòa án thể hiện qua ! Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VỊ (15-18/12/1986), tại trang Web của Bộ Nội Vụ nước CHXHCN Việt Nam http://www.vn/Vietnam/Documents/PartyDocs/128200409281706000/. ? Luật Tổ Chức Tòa Án Nhân Dân số 33/2002/QH10 do Quốc Hội Nước CHXHCN Việt Nam ban hành ngày 2/4/2002 (sau đây gọi tắt là Luật 2002 hoặc Luật tễ chức tòa án 2002).
1 Hồi thảo khoa học: 7iép tục cải cách tổchức và hoat đông của hê thông toa an. nhân dân và viện kiểm sát nhân. dân: theo tinh thân Nghị quyết Đại hội x cua Dang cac quy dinh phap luật hiện hành về tô chức và hoạt động của tòa án. Phần thứ ba dé cập những xu hướng tiếp tục cải cách hệ thông tòa án trong công cuộc cải cách tư pháp nói chung thể hiện qua các chính sách và chiến lược cải cách tư - pháp của Dang.
Tình hình cải cách hệ thống tòa án thời kỳ sau Đổi Mới đến 2002 Như trên đã dé cập, nhu cầu “cải cách lớn về tổ chức bộ máy của các cơ quan nhà nước” đã được đặt ra ngay khi bắt đầu tiến hành Công Cuộc Đổi Mới năm 1986. Tuy nhiên, để đáp ứng được nhu cầu này thì cần phải có một quá trình chuẩn bị lâu dài. Vì thé, trong những nam ngay sau Đổi Mới, cơ cấu tổ chức của các cơ quan trong bộ máy nhà nước Việt Nam, trong đó có hệ thống tòa án, chưa có thay đổi nhiều. Ngày 22/12/1988, một luật được ban hành dé sửa đổi bổ sung Luật Tổ Chức Tòa Án Nhân Dân được ban hành năm 1981 và đang có hiệu lực khi đó.
Tuy nhiên, các sửa đổi bổ sung khi đó chủ yếu tập trung vào những khía cạnh kỹ thuật trong hoạt động của Tòa Án Nhân Dân Tối Cao, chưa có những thay đối lon’ về tô chức và hoạt động của hệ thống tòa án theo hướng. phục vụ yêu cầu. của Công Cuộc Đổi Mới.- Đến năm 1992, một luật tổ chức tòa án nhân dân hoàn toàn mới được ban hành, vừa để cụ thê hóa Hiến Pháp năm 1992, vừa để bắt đầu từng bước đáp ứng yêu cầu của Đổi Mới về tổ chức vã hoạt động của bộ máy nhà nước.” Luật này cùng với những luật sửa đổi bỗ sung của nó ban hành trong các năm 1993 và 1995 đã đem lại một số thay déi khá quan trọng cho hệ thống tòa án theo hướng phục vụ yêu cầu của Công Cuộc Đôi Mới.