Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm của giới hạn xét xử sơ thẩm hình sự 1. Khái niệm giới hạn xét xử sơ thẩm hình sự Tố tụng hình sự là một lĩnh vực hoạt động đặc thù của Nhà nước, mà hệ quả của nó có tác động lớn đến quyền con người, quyền công dân. Chính vì vậy, các vấn đề liên quan đến TTHS luôn được sự quan tâm, nghiên cứu nhất là hoạt động xét xử của Tòa án.
Xét dưới góc độ tranh tụng, xét xử là một trong ba chức năng cơ bản của TTHS đó là: chức năng buộc tội; chức năng gỡ tội (bào chữa); chức năng xét xử. Xét xử chỉ được thực hiện bởi một chủ thể duy nhất là Tòa án. Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 xác định: "Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt nam, thực hiện quyền tư pháp" [40]. Xét dưới góc độ TTHS, xét xử là một giai đoạn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, do Tòa án có thẩm quyền tiến hành.
Thông qua hoạt động xét xử tại phiên tòa, HĐXX nhân danh Nhà nước xem xét công khai, khách quan, toàn diện kết quả của hoạt động điều tra, truy tố, bào chữa để đưa ra phán quyết về vụ án. Theo quy định của pháp luật TTHS, có hai cấp xét xử là xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm, theo đó mỗi cấp Tòa án sẽ có thẩm quyền xét xử nhất định đối với các vụ án hình sự. Việc xét xử của Tòa án nói chung được thực hiện theo chế độ hai cấp xét xử, đó là chế độ xét xử sơ thẩm và chế độ xét xử phúc thẩm. Qua nghiên cứu các công trình và tài liệu chuyên ngành TTHS đã công bố cho 8 Luan van thấy, khái niệm “xét xử sơ thẩm” trong TTHS được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau: Như vậy, trong khoa học pháp lý tố tụng hình sự về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có nhiều góc độ tiếp cận khác nhau đối với khái niệm này.
Mỗi góc độ tiếp cận đều chứa đựng những hạt nhân hợp lý nhất định, song xét tính chính xác và đầy đủ thì hầu hết chỉ mang tính tương đối. Theo quan điểm của tác giả: Xét xử sơ thẩm là việc xét xử lần đầu vụ án hình sự do Toà án được giao thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật. Xét xử sơ thẩm được xác định như là một giai đoạn kết thúc của quá trình giải quyết một vụ án hình sự, mọi tài liệu chứng cứ của vụ án do CQĐT, truy tố thu thập trong quá trình điều tra đều được xem xét một cách công khai tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được nghe trực tiếp lời khai của nhau, được tranh luận chất vấn những điều mà tại CQĐT họ không có điều kiện thực hiện. Do đó, xét xử sơ thẩm là thủ tục tố tụng vô cùng quan trọng đối với toàn bộ quá trình tố tụng.
Tuy nhiên, để thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử, kết quả xét xử (bản án hoặc quyết định) của tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ngay và có thể bị kháng cáo, kháng nghị để xét xử tại cấp phúc thẩm. Theo quan điểm của tác giả, giới hạn của việc xét xử là mối quan hệ tố tụng hình sự giữa Viện kiểm sát và Toà án ở giai đoạn xét xử từ sơ thẩm. Mối quan hệ này xuất hiện từ khi Viện Kiểm sát gửi cáo trạng và hồ sơ vụ án sang Toà án và nó được thể hiện thông qua Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát uỷ quyền nghiên cứu hồ sơ vụ án, làm cáo trạng và giữ quyền công tố trước toà cùng với Thẩm phán được giao nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ vụ án và sẽ làm chủ toạ phiên toà nếu vụ án 9 Luan van được đưa ra xét xử. Giới hạn xét xử là quy định pháp lí quan trọng có liên quan đến nhiều đến các chức năng của tố tụng hình sự.
Giới hạn xét xử là phạm vi những vấn đề thuộc nội dung vụ án mà hội đồng xét xử được phép xét xử tại phiên tòa. Phạm vi đó không phải là vô hạn mà ngược lại nó được hạn chế trước hết bởi phạm vi những người và những hành vi mà VKS truy tố trong cáo trạng và quyết định đưa vụ án ra xét xử. Thì cơ sở pháp lý để xác định về giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong mọi trường hợp chính là nội dung quyết định truy tố của VKS và nội dung quyết định đưa vụ án ra xét xử của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vụ án hình sự trong phạm vi truy tố của VKS và quyết định đưa vụ án ra xét xử của Thẩm phán.
Tòa án không có quyền xét xử đối với những bị cáo và những hành vi mà VKS không truy tố hoặc không được Thẩm phán quyết định đưa ra xét xử. Trên cơ sở những phân tích và lý giải nêu trên, có thể đưa ra khái niệm khoa học về giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự như sau: "Giới hạn xét xử sơ thẩm hình sự là phạm vi mà Tòa án cấp sơ thẩm được xem xét, giải quyết cũng như mức độ xem xét, giải quyết vụ án tại phiên tòa sơ thẩm theo quyết định truy tố của Viện kiểm sát và quyết định đưa vụ án ra xét xử của thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Đặc điểm của giới hạn xét xử sơ thẩm trong Tố tụng hình sự Thứ nhất, giới hạn xét xử sơ thẩm thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa Tòa án với VKS trong TTHS (quan hệ giữa cơ quan thực hành quyền công tố-buộc tội với cơ quan thực hiện quyền tư pháp- xét xử mà thực chất là quan hệ giữa hai chức năng của Tố tụng hình sự). Giới hạn xét xử sơ thẩm thể hiện mối quan hệ phối hợp và chế ước lẫn nhau giữa VKS và 10 Luan van Tòa án cấp sơ thẩm có thẩm quyền.
Quyết định truy tố của VKS sẽ làm căn cứ pháp lý thứ nhất để Tòa án khi tiến hành xét xử để xác định sự thật khách quan của vụ án nhằm bảo vệ quyền con người, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức,cá nhân. Hành vi bị truy tố, tội danh mà VKS viện dẫn để truy tố tại bản cáo trạng là cơ sở để Tòa án xem xét thực hiện chức năng xét xử của mình, còn VKS thực hiện chức năng buộc tội trong suốt giia đoạn điều tra và được kéo dài cho đến khi Tòa án cấp có thẩm quyền ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Đối tượng bị Tòa án xét xử sơ thẩm là hành vi và bị cáo mà Tòa án sơ thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử trên cơ sở quyết định truy tố của VKS. Tòa án chỉ được xét xử những bị cáo về những hành vi phạm tội của họ mà VKS truy tố, có nghĩa là Tòa án không được xét xử thêm hành vi hoặc bị cáo khi chưa được VKS truy tố.
VKS quyết định truy tố bằng cáo trạng ra trước Tòa án sơ thẩm cấp có thẩm quyền là cơ sở pháp lý đầu tiên để Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tòa án thực hiện chức năng xét xử chứ không phải là bên buộc tội, nên Tòa án không thể đưa ra xét xử những bị cáo ngoài diện VKS truy tố. Thứ hai, giới hạn xét xử sơ thẩm khẳng định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tính độc lập của Tòa án và VKS. Mặc dù VKS đã có cáo trạng quyết định truy tố bị can ra Tòa án cấp sơ thẩm có thẩm quyền để xét xử về hành vi phạm tội do bị can đó gây ra theo điểm, khoản, điều được quy định trong BLHS, nhưng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa, khi nghiên cứu hồ sơ nếu xét thấy có căn cứ cho rằng bị can phạm một tội khác, hoặc có đồng phạm khác, hoặc trong trường hợp tài liệu, chứng cứ đã thu được trong giai đoạn điều tra cho thấy bị can phạm một tội khác nặng hơn tội mà VKS đã truy tố, thì Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho VKS để 11 Luan van điều tra bổ sung hoặc truy tố về một tội nặng hơn.
Trường hợp tội đó nhẹ hơn hoặc bằng tội VKS truy tố thì Thẩm phán không nhất thiết phải ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Sau khi Thẩm phán trả hồ sơ điều tra bổ sung, hoặc đề nghị VKS truy tố lại về tội nặng hơn mà VKS vẫn giữ nguyên tội danh quyết định truy tố thì Thẩm phán quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ngoài ra trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán còn có thể ra quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật TTHS. Như vậy không phải lúc nào VKS truy tố bị can ra trước Tòa án thì Tòa án đều sẽ quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Do vậy, Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa không quyết định đưa vụ án ra xét xử thì không có việc tiếp theo là mở phiên tòa và Tòa án chịu tác động của giới hạn xét xử mà VKS đặt ra trong bản cáo trạng, vì vậy mọi quyết định truy tố của VKS phải được Tòa án xem xét và thông qua bằng việc quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên toà, VKS giữ quyền công tố, thực hiện việc buộc tội, đề nghị kết tội bị cáo theo nội dung của quyết định truy tố hoặc có thể rút toàn bộ quyết định truy tố. Quyết định nhũng vấn đề này thuộc về toà án theo đúng nguyên tắc “không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật ” (Điều 9 BLTTHS). Thực hiện chức năng của mình, toà án xét xử các bị cáo trong phạm vi quyết định truy tố của VKS đồng thời phải xét xử trong phạm vi quyết định đưa vụ án ra xét xử của thẩm phán chủ tọa phiên tòa.