Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự (VADS), việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là mục tiêu trọng tâm của hoạt động tố tụng. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết tranh chấp thường phát sinh những sự kiện pháp lý khiến đối tượng cần giải quyết không còn tồn tại hoặc được suy đoán là không còn tồn tại. Khi đó, Tòa án phải áp dụng chế định đình chỉ giải quyết vụ án nhằm chấm dứt quá trình tố tụng, giải phóng các bên đương sự (đặc biệt là bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) khỏi nghĩa vụ tham gia tố tụng bắt buộc, đồng thời giảm thiểu chi phí và thời gian cho xã hội.

Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2015 ra đời với nhiều sửa đổi, bổ sung nhằm cụ thể hóa tinh thần cải cách tư pháp. Dẫu vậy, các quy định pháp luật hiện hành về đình chỉ giải quyết VADS vẫn còn những điểm chưa rõ ràng, phát sinh vướng mắc trong thực tiễn áp dụng tại Tòa án cấp sơ thẩm. Nếu việc đình chỉ không chính xác sẽ xâm phạm trực tiếp đến quyền khởi kiện và quyền tiếp cận công lý của nguyên đơn. Do đó, đề tài "Đình chỉ giải quyết VADS tại Toà án cấp sơ thẩm" của tác giả Trần Anh Mai được thực hiện nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và tháo gỡ bất cập thực tiễn.

Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ những vấn đề lý luận về đình chỉ giải quyết VADS; đánh giá các quy định pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành; phân tích thực tiễn thực hiện tại Tòa án cấp sơ thẩm và đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Luận giải một số vấn đề lý luận về đình chỉ việc giải quyết VADS tại Tòa án cấp sơ thẩm.
  2. Đánh giá thực trạng quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về đình chỉ giải quyết VADS ở cấp sơ thẩm.
  3. Phân tích thực tiễn thực hiện pháp luật tại Tòa án cấp sơ thẩm (khảo sát thực tế tại các TAND trên địa bàn thành phố Hà Nội), từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân.
  4. Đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi quy định về đình chỉ giải quyết VADS tại Tòa án cấp sơ thẩm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận, hệ thống quy định pháp luật tố tụng dân sự về đình chỉ giải quyết VADS tại Tòa án cấp sơ thẩm và thực tiễn thực hiện các quy định này.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật tố tụng dân sự về đình chỉ giải quyết VADS ở giai đoạn sơ thẩm tại TAND hai cấp thuộc địa bàn thành phố Hà Nội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý luận và khung pháp lý:

  • Khung khái niệm: Phân định ranh giới giữa vụ án dân sự (có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ) và việc dân sự (không có tranh chấp, chỉ yêu cầu công nhận hoặc không công nhận sự kiện pháp lý) theo quy định tại Điều 1 BLTTDS năm 2015. Định nghĩa đình chỉ giải quyết VADS là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng nhằm chấm dứt hẳn việc giải quyết VADS đã thụ lý khi xuất hiện căn cứ luật định.
  • Văn bản quy phạm pháp luật nền tảng: BLTTDS năm 2015 (các Điều 192, 193, 195, 214, 217, 218, 219), Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 149, 150, 184 về thời hiệu), Luật Phá sản năm 2014 (Điều 41, 71, 86, 95, 110), Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Đất đai năm 2013 (Điều 202, 203), Luật Thi hành án dân sự (Điều 75).
  • Văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật: Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP, Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP (ban hành mẫu quyết định 45-DS, 46-DS), Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP (hướng dẫn trả lại đơn khởi kiện và quyền nộp lại đơn), Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC và Công văn số 02/TANDTC-PC ngày 02/08/2021 của TANDTC.
  • Tài liệu học thuật: Các công trình nghiên cứu của PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Hà, PGS.TS. Trần Anh Tuấn, Tống Công Cường, Nguyễn Triều Dương, Nguyễn Xuân Bình, Phạm Hải Tâm, Hà Thị Giang...

Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận được triển khai dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, cùng các phương pháp nghiên cứu pháp lý chuyên ngành:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Áp dụng xuyên suốt các chương để mổ xẻ từng điều khoản luật định, lý giải bản chất của các chế định và khái quát hóa thực tiễn xét xử.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy định của BLTTDS năm 2015 với BLTTDS năm 2004 (sửa đổi 2011) và các Pháp lệnh thủ tục trước đây để làm rõ điểm tiến bộ và điểm còn tồn tại.
  • Phương pháp nghiên cứu hồ sơ án thực tế: Khảo sát, đánh giá các bản án, quyết định đình chỉ cụ thể tại TAND cấp sơ thẩm ở Hà Nội nhằm rút ra những vướng mắc điển hình.

Nguồn dữ liệu: Báo cáo tổng kết công tác hàng năm của TANDTC và Báo cáo tổng kết tình hình hoạt động của TAND thành phố Hà Nội giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2022; các quyết định, bản án dân sự sơ thẩm và phúc thẩm thực tế.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề chung về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và các quy định pháp luật thực định về chế định đình chỉ giải quyết VADS tại cấp sơ thẩm:

  1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa:

    • Khái niệm: Đình chỉ giải quyết VADS tại Tòa án cấp sơ thẩm là hoạt động của Tòa án cấp sơ thẩm nhằm chấm dứt hẳn việc giải quyết VADS đã được thụ lý khi xuất hiện những căn cứ do pháp luật quy định. Khi quyết định đã có hiệu lực pháp luật, đương sự không có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án đó, trừ các trường hợp ngoại lệ theo luật định.
    • Đặc điểm đặc thù: (i) Chấm dứt việc giải quyết vụ án (khác biệt với tạm đình chỉ - chỉ tạm ngừng tố tụng và sẽ phục hồi giải quyết khi lý do tạm ngừng không còn); (ii) Chỉ được ban hành khi thỏa mãn căn cứ luật định nghiêm ngặt; (iii) Thẩm quyền thuộc về Thẩm phán (trước khi mở phiên tòa) hoặc Hội đồng xét xử (tại phiên tòa); (iv) Về hậu quả pháp lý: Chấm dứt tố tụng, đương sự không được khởi kiện lại (trừ ngoại lệ), Tòa án từ chối phân xử nội dung; (v) Hình thức bắt buộc phải lập thành văn bản; (vi) Phải tuân thủ nghiêm ngặt trình tự, thủ tục tố tụng; (vii) Quyết định không có hiệu lực ngay mà có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
    • Ý nghĩa: Tiết kiệm thời gian, kinh phí cho đương sự và ngân sách Nhà nước; khắc phục kịp thời các sai lầm trong quá trình thụ lý; giải phóng các bên khỏi nghĩa vụ tố tụng khi đối tượng tranh chấp không còn tồn tại hoặc được suy đoán không còn tồn tại; giảm thiểu quá tải và nâng cao chất lượng xét xử.
  2. Căn cứ đình chỉ giải quyết VADS tại cấp sơ thẩm (Khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015):

    • Điểm a: Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế (gắn liền với nhân thân). Lưu ý trường hợp vụ án vừa có quan hệ nhân thân vừa có quan hệ tài sản (như ly hôn có tranh chấp tài sản, nợ chung), nếu đương sự chết thì Tòa án chỉ đình chỉ phần quan hệ nhân thân, phần tài sản vẫn phải tiếp tục giải quyết.
    • Điểm b: Cơ quan, tổ chức bị giải thể, phá sản mà không có cá nhân, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng (phân biệt với việc chưa có người kế thừa tại Điều 214 để tạm đình chỉ).
    • Điểm c: Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan. Tác giả phân tích cụ thể cơ chế chuyển đổi địa vị tố tụng theo Khoản 2 Điều 217, Giải đáp 01/2017/GĐ-TANDTC và Công văn 02/TANDTC-PC: nếu nguyên đơn rút yêu cầu nhưng bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố thì bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn.
    • Điểm d: Đã có quyết định mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là đương sự liên quan đến nghĩa vụ, tài sản.
    • Điểm đ: Đương sự không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo luật định.
    • Điểm e: Thời hiệu khởi kiện đã hết và có yêu cầu áp dụng thời hiệu của đương sự trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định.
    • Điểm g: Các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 192 BLTTDS mà Tòa án đã thụ lý (người khởi kiện không có quyền, không đủ năng lực hành vi, chưa đủ điều kiện khởi kiện, sự việc đã giải quyết bằng bản án/quyết định có hiệu lực, hết thời hạn không nộp biên lai tạm ứng án phí, vụ án không thuộc thẩm quyền, không sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu).
    • Điểm h: Các trường hợp khác do pháp luật quy định.
  3. Thẩm quyền, thủ tục, hình thức và hậu quả pháp lý:

    • Thẩm quyền & hình thức: Thẩm phán ban hành Mẫu 45-DS (trước phiên tòa), Hội đồng xét xử ban hành Mẫu 46-DS (tại phiên tòa). Nếu đương sự chỉ rút một phần yêu cầu, Tòa án không ra quyết định riêng mà nhận định và quyết định đình chỉ một phần ngay trong bản án.
    • Thời hạn: Trong 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, Tòa án phải gửi quyết định cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp; xóa tên vụ án trong sổ thụ lý và trả lại đơn/tài liệu nếu có yêu cầu (phải sao chụp lưu giữ).
    • Hậu quả pháp lý: Xử lý tiền tạm ứng án phí (sung công quỹ theo điểm a, b hoặc trả lại đương sự theo điểm c, d, đ, e, g Khoản 1 Điều 217). Tác giả chỉ rõ khoảng trống pháp lý giữa điểm d Khoản 1 Điều 217 BLTTDS và Điều 71, 86, 95 Luật Phá sản 2014 khi TAND đình chỉ thủ tục phá sản hoặc doanh nghiệp phục hồi hoạt động thành công.

Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật tố tụng dân sự về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại cấp sơ thẩm và kiến nghị hoàn thiện

Chương 2 tập trung khảo sát số liệu thực tế tại TAND hai cấp thành phố Hà Nội và làm rõ các vướng mắc, từ đó đề xuất giải pháp cụ thể:

  1. Thực tiễn thực hiện và số liệu thống kê: Trong giai đoạn 2017 - 2022, các TAND tại thành phố Hà Nội đã giải quyết hàng chục nghìn vụ việc dân sự sơ thẩm mỗi năm. Số lượng vụ án kết thúc bằng quyết định đình chỉ chiếm tỷ lệ dưới 20% tổng số thụ lý, giải quyết.
Năm Tổng số vụ việc thụ lý, giải quyết Số việc đình chỉ giải quyết Tỷ lệ đình chỉ (%)
2017 27.717 3.417 ~ 12,3%
2018 32.606 4.887 ~ 15,0%
2019 36.985 5.401 ~ 14,6%
2020 38.017 5.711 ~ 15,0%
2021 34.823 3.618 ~ 10,4%
2022 36.830 5.143 ~ 14,0%

(Nguồn: Báo cáo tổng kết của TAND thành phố Hà Nội từ năm 2017 đến năm 2022)

Lý do đình chỉ thực tế chủ yếu gồm: nguyên đơn rút đơn khởi kiện; đình chỉ các vụ án hôn nhân và gia đình; nguyên đơn vắng mặt lần 2 không có lý do chính đáng; đương sự yêu cầu áp dụng thời hiệu; và nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng.

  1. Các hạn chế, vướng mắc điển hình:

    • Thứ nhất, quyết định đình chỉ chưa ghi nhận rõ quyền khởi kiện lại của đương sự: Mẫu 45-DS theo Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP yêu cầu ghi hậu quả pháp lý theo Điều 218 BLTTDS, nhưng nhiều quyết định đình chỉ do nguyên đơn rút đơn (điểm c khoản 1 Điều 217) bỏ sót việc ghi nhận quyền được nộp đơn khởi kiện lại, gây khó khăn cho việc bảo vệ quyền lợi của đương sự.
    • Thứ thứ hai, xung đột trong việc thụ lý lại vụ án bị đình chỉ do không nộp chi phí tố tụng: Điểm đ Khoản 1 Điều 217 quy định đình chỉ khi không nộp tạm ứng chi phí định giá, nhưng Điều 218 lại không quy định rõ đương sự có được khởi kiện lại hay không.
      • Dẫn chứng án thực tế: Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà Ngô Thị H (nguyên đơn) và bà Hoàng Thị T cùng các cá nhân khác (bị đơn). TAND TP. Hà Nội thông báo nộp tạm ứng trích đo 50.000.000 đồng, bà H không nộp đủ do hoàn cảnh khó khăn nên Tòa án đình chỉ vụ án (cấp phúc thẩm giữ nguyên). Sau đó bà H nộp đơn khởi kiện lại, Tòa án không có căn cứ trả lại đơn theo Điều 192 nên ngày 13/07/2020 đã thụ lý lại. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết, bà H tiếp tục không có tiền nộp chi phí tố tụng, buộc Tòa án phải đình chỉ lần thứ hai, gây lãng phí thời gian và nguồn lực tố tụng.
    • Thứ ba, bản án/quyết định đình chỉ bị hủy do xác định sai quan hệ pháp luật tranh chấp:
      • Dẫn chứng án thực tế: Vụ án ông Trần H khởi kiện chị Trần N yêu cầu trả lại thửa đất 130m² đang bị Chi cục Thi hành án dân sự (THADS) kê biên cưỡng chế để trả nợ cho anh Đàm Văn A. TAND huyện T thụ lý nhưng ngày 21/09/2017 đã ra quyết định đình chỉ vụ án với lý do "chưa đủ điều kiện khởi kiện vì chưa qua hòa giải tại UBND xã theo Khoản 3 Điều 202 Luật Đất đai". Quyết định bị VKSND kháng nghị. TAND thành phố Hà Nội đã hủy quyết định sơ thẩm vì TAND huyện T xác định sai quan hệ tranh chấp: Đây là tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 75 Luật THADS và Khoản 12 Điều 26 BLTTDS, không thuộc trường hợp bắt buộc phải hòa giải cơ sở tại UBND xã.
  2. Kiến nghị và giải pháp hoàn thiện:

    • Hoàn thiện quy định tại Điều 218 BLTTDS năm 2015: Bổ sung quy định rõ ràng về quyền khởi kiện lại trong từng trường hợp đình chỉ cụ thể, đặc biệt là trường hợp đình chỉ theo điểm đ khoản 1 Điều 217.
    • Đồng bộ hóa BLTTDS năm 2015 với Luật Phá sản năm 2014: Bổ sung căn cứ phục hồi giải quyết vụ án khi Tòa án đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản hoặc đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
    • Đổi mới thủ tục nộp tạm ứng án phí theo cơ chế "một cửa" trực tiếp tại Tòa án nhằm tránh hành chính hóa, giảm thời gian đi lại giữa Tòa án và Cơ quan Thi hành án dân sự.
    • Tăng cường tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ thống nhất việc áp dụng biểu mẫu tố tụng và kỹ năng xác định chính xác quan hệ pháp luật tranh chấp cho đội ngũ Thẩm phán.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả thực nghiệm và số liệu thực tế: Khóa luận đã thu thập, tổng hợp bức tranh toàn cảnh về thực tiễn giải quyết VADS sơ thẩm tại Hà Nội từ năm 2017 đến năm 2022, phản ánh tỷ lệ đình chỉ vụ án ổn định ở mức dưới 20% mỗi năm (dao động từ 10,4% đến 15,0%), phân loại cụ thể các nguyên nhân đình chỉ phổ biến.
  • Giải pháp đề xuất: Đưa ra các nhóm giải pháp lập pháp (sửa đổi Điều 217, 218 BLTTDS; xử lý xung đột với Luật Phá sản và Luật THADS) và nhóm giải pháp thi hành (cơ chế thu tạm ứng án phí tập trung tại Tòa án; chuẩn hóa áp dụng Mẫu 45-DS theo Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP).
  • Đóng góp học thuật: Công trình làm rõ bản chất pháp lý của từng căn cứ đình chỉ sơ thẩm theo BLTTDS 2015; phân tích chi tiết kỹ thuật chuyển đổi địa vị tố tụng khi rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu; phát hiện các điểm nghẽn pháp lý từ các vụ án thực tế làm nguồn tài liệu tham khảo cho công tác đào tạo và nghiên cứu luật tố tụng dân sự.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tiễn của khóa luận chỉ giới hạn trong địa bàn thành phố Hà Nội và tập trung ở cấp xét xử sơ thẩm, chưa mở rộng so sánh với thực tiễn áp dụng tại các địa phương khác hoặc ở các cấp xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.
  • Hướng mở rộng: Mở rộng khảo sát thực tiễn áp dụng chế định đình chỉ giải quyết VADS trên phạm vi toàn quốc; nghiên cứu chuyên sâu cơ chế phối hợp liên ngành giữa Tòa án, Cơ quan THADS và cơ quan quản lý đất đai trong việc xử lý hậu quả pháp lý của quyết định đình chỉ.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Giảng viên, sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự; Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư và người làm công tác thực tiễn tư pháp.
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất:
    • Hệ thống luận giải chi tiết 7 nhóm căn cứ đình chỉ tại Khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 (đặc biệt là hướng dẫn xử lý vụ án vừa có quan hệ nhân thân vừa có quan hệ tài sản và kỹ thuật chuyển đổi địa vị tố tụng khi đương sự rút yêu cầu).
    • Phân tích án lệ thực tế về phân định tranh chấp tài sản thi hành án theo Điều 75 Luật THADS với tranh chấp quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai.

Câu hỏi thường gặp

1. Khi nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố thì Tòa án sơ thẩm xử lý như thế nào?
Căn cứ Khoản 2 Điều 217 BLTTDS năm 2015 và hướng dẫn tại Công văn 02/TANDTC-PC, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng thời trong quyết định phải thể hiện rõ việc thay đổi địa vị tố tụng: bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn để tiếp tục giải quyết vụ án.

2. Tòa án có được tự ý áp dụng thời hiệu khởi kiện để đình chỉ giải quyết VADS hay không?
Không. Theo quy định tại Điều 149, 184 BLDS năm 2015 và điểm e Khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015, Tòa án chỉ được áp dụng quy định về thời hiệu khi có yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên đương sự, và yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ban hành bản án, quyết định giải quyết vụ việc.

3. Sự khác biệt cơ bản giữa đình chỉ theo điểm b Khoản 1 Điều 217 và tạm đình chỉ theo điểm a Khoản 1 Điều 214 khi cơ quan, tổ chức là đương sự chấm dứt tồn tại là gì?
Điểm khác biệt nằm ở khả năng kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng. Nếu cơ quan, tổ chức hợp nhất, sáp nhập, chia tách mà chưa có chủ thể kế thừa thì Tòa án tạm đình chỉ (Điều 214) để chờ xác định chủ thể; còn nếu cơ quan, tổ chức bị giải thể, phá sản mà không có chủ thể kế thừa thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết hẳn vụ án (Điều 217).

4. Trong vụ án ly hôn có tranh chấp tài sản và nghĩa vụ trả nợ, nếu một bên vợ/chồng chết thì Tòa án đình chỉ toàn bộ hay một phần vụ án?
Tòa án chỉ ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với các yêu cầu gắn liền với quyền nhân thân (quan hệ hôn nhân, quyền nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng theo điểm a Khoản 1 Điều 217), còn các quan hệ tài sản và nghĩa vụ trả nợ chung vẫn phải được tiếp tục giải quyết theo thủ tục tố tụng chung để bảo vệ quyền lợi của người thừa kế và bên thứ ba.

5. Vì sao TAND huyện T bị cấp phúc thẩm hủy quyết định đình chỉ trong vụ án ông Trần H khởi kiện chị Trần N?
Vì TAND huyện T đã xác định sai quan hệ pháp luật. Nội dung tranh chấp của ông H là yêu cầu trả lại tài sản đang bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 75 Luật THADS và Khoản 12 Điều 26 BLTTDS (không bắt buộc phải qua hòa giải cơ sở), nhưng Tòa án lại xác định nhầm thành tranh chấp quyền sử dụng đất theo Khoản 3 Điều 202 Luật Đất đai dẫn đến đình chỉ sai căn cứ.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Anh Mai đã phân tích toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn của chế định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm theo BLTTDS năm 2015. Thông qua khảo sát thực tế tại TAND hai cấp thành phố Hà Nội giai đoạn 2017 - 2022, tác giả đã chỉ ra những vướng mắc pháp lý điển hình liên quan đến thủ tục thụ lý lại, xác định quan hệ tranh chấp và kỹ thuật lập biểu mẫu quyết định. Các giải pháp hoàn thiện lập pháp và thực thi được đề xuất trong công trình mang giá trị khoa học và ứng dụng thiết thực cho công tác hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.