Chương 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE GIAO NOP, TIẾP CAN, CÔNG KHAI CHUNG CU TRONG VỤ AN DAN SỰ Ở CAP SƠ THAM 1. Khái niệm chứng cứ trong vụ án dân sự 1. Khái niệm chứng cứ Chứng minh là một quá trình khó khăn, phức tạp giúp Tòa án tìm ra và tái hiện lại những sự kiện thực tế đã xảy ra trong quá khứ để từ đó, Tòa án mới đưa ra phán quyết chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của đương sự. Vì vậy quá trình chứng minh thực chất chính là quá trình giao nộp, thu thập, bảo quản, đánh gia và sử dụng chứng cứ, mọi giai đoạn của TTDS đều gắn với chứng cứ.
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, chứng cứ là “cái được dan ra để dựa vào đó mà xác định điều gì đó đúng hay sai, thật hay giả” [56, tr. Theo cuỗn Hán Việt từ điển thì chứng cứ là “cái thực tích hay hiện trạng có thể bằng cứ vào ma chứng thực được” [2, tr. Còn trong cuốn Từ điển Tiếng Việt, “chứng cứ là cải cụ thể (như lời nói hoặc việc làm, vật chứng, tai liệu, vv.) tỏ rõ điểm gì là có thật" [28, tr. Theo lý luận về nhận thức của chủ nghĩa duy vật, con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan, hoạt động của con người bao giờ cũng để lại dấu vết trong thế giới khách quan hoặc dưới dạng vật chất hoặc được phản ánh, ghi nhận trong trí nhớ của con người.
Do đó về nguyên tắc chung thì trong bat cứ vụ việc gi, con người cũng có thé chứng minh được sự thật khách quan thông qua việc thu thập, nghiên cứu, đánh giá các tin tức, dấu vết của hành vi đã xảy ra có liên quan đến vụ việc giải quyết. Những tin tức, dau vết đó là chứng cứ. Dưới góc độ khoa học pháp ly, chứng cứ là cái có thật, được thu thập theo trình tự luật định, dựa vào đó Tòa án xác định có hay không có tình tiết khách quan làm cơ sở cho yêu cầu của đương sự. Đây là khái niệm được các nhà nghiên cứu xây dựng (có trước khi BLTTDS ban hành) dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng, có tiếp thu những quan điểm khoa học về chứng cứ của pháp luật TTDS của các nước trên thế giới.
BLTTDS năm 2004 lần đầu tiên đã đưa ra định nghĩa về chứng cứ “Chứng cứ là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan tổ chức khác giao nộp cho Toa an hoặc do Toa án thu thập được theo trình tự thủ tục do Bộ luật này quy định mà Tòa án dùng làm căn cứ dé xác định yêu cau hay sự phản doi của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác can thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân Sự”. Đến BLTTDS năm 2015 đã hoàn thiện định nghĩa về chứng cứ trên cơ sở kế thừa có chọn lọc việc xây dựng khái niệm chứng cứ của một SỐ quốc gia trên thé giới. Theo quy định của pháp luật TTDS hiện hành thì “Chứng cứ là những gì có thật được đương sự và cơ quan tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tổ tụng hoặc do Toa an thu thập được theo trình tự thủ tục do Bộ luật này quy định va được Toa án sử dụng làm căn cứ đề xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cau hay sự phản đổi của đương sự là có căn cứ và hợp pháp” [32], định nghĩa này khá tương đồng với quy định trong TTDS của Liên Bang Nga: “Chứng cứ trong to tụng dân sự là những sự thật khách quan va theo đó ma Toa an có cơ sở dé Tòa án giải quyết vụ án dân sự" hay BLTTDS Nhật Bản quy định: “Chung cứ là một tư liệu thông qua đó một tình tiết được Tòa án công nhận và là một tu liệu, cơ sở thông qua đó Toa án được thuyết phục là một tình tiết nhất định ton tại hay không” [31, tr. Như vậy, nói một cách ngắn gọn, chứng cứ trong VADS là những gì có thật, được giao nộp, xuất trình cho Tòa án hoặc do Toa án thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật TTDS quy định mà Tòa án dùng làm căn cứ khi giải quyết VADS.
Theo tác giả, định nghĩa chứng cứ cần phải tường minh hon, cụm từ “những gì có thật” phải được quy định cụ thể là các tin tức, dấu vết, tình tiết, sự kiện nhưng được phản ánh khách quan. Vì vậy, theo tác giả, chứng cứ của VADS là các tin tức, dấu vết, tình tiết, sự kiện phản ánh khách quan được đương sự và các cơ quan, tổ chức, cá nhân giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp. Nguồn của chứng cứ Nguồn chứng cứ trong TTDS được hiểu là nơi chứa đựng những tin tức, dấu vết, tình tiết, sự kiện được tồn tại một cách khách quan, có liên quan đến VADS, được các chủ thé có thâm quyền thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tính hợp pháp của chứng cứ đối với mỗi vụ việc cụ thể, nhằm giải quyết VADS được đúng đắn. Chứng cứ và nguồn của chứng cứ là hai mặt không thé tách rời, cụ thé: chứng cứ bắt buộc phải được rút ra từ một trong những nguồn của chứng cứ và thu thập băng biện pháp do pháp luật quy định.
Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự phải chứng minh tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về chứng cứ còn đối với những tin tức, dấu vết, tình tiết, sự kiện không được rút ra từ các nguồn do pháp luật quy định hoặc không được thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng theo đúng quy định của pháp luật thì không được coi là chứng cứ và không được sử dụng khi giải quyết VADS. Nếu không có nguồn chứng cứ thì sẽ không có chứng cứ dé làm sáng tỏ các tình tiết, sự kiện pháp lý cũng như diễn biến của sự việc, dẫn đến các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ đưa ra những nhận định không đúng, không chính xác và không day đủ dé giải quyết vụ án. Bat kỳ loại chứng cứ nào cũng nam trong nguồn chứng cứ nhưng điều đó không có nghĩa là mọi nguồn chứng cứ thu 10 thập được sẽ chứa đựng chứng cứ. Do vậy, không nên đồng nhất khái niệm “chứng cứ ” và “nguồn của chứng cứ”.
Nguồn của chứng cứ là nơi rút ra từ các chứng cứ, việc phân biệt được nguồn chứng cứ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định độ tin cậy và giá trị chứng minh của từng loại chứng cứ. Nguồn của chứng cứ bao gồm: [32] Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; dữ liệu điện tử; vật chứng; lời khai của đương sự, người làm chứng: biên bản định giá, biên bản thẩm định giá, kết luận giám định; văn bản ghi nhận sự kiện pháp lý, hành vi pháp lý; văn bản công chứng, chứng thực và các nguồn khác mà pháp luật quy định. Các thuộc tính của chứng cứ Chứng cứ có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết VADS nhưng nó cũng là một phạm trù pháp lý khá phức tạp. Tuy vậy, giống như các sự việc khác con người vẫn có thể nhận thức được thông qua các thuộc tính của nó.
Chứng cứ cũng vậy, nó cũng có những thuộc tính dễ nhận diện, đó là ba thuộc tính cơ bản, bao gồm: tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp. Những tin tức, dấu vết chứa đựng trong vật, tài liệu hoặc các phương tiện phan ánh khác chỉ được sử dụng là chứng cứ nếu chúng thỏa mãn day đủ ba thuộc tinh này. Ba thuộc tinh cơ bản của chứng cứ có mối quan hệ biện chứng với nhau tạo nên một thê thống nhất của chứng cứ, trong đó tính khách quan và tính liên quan tạo nên mặt nội dung của chứng cứ còn tính hợp pháp tạo nên mặt hình thức của chứng cứ. Thứ nhất, Tính khách quan Chứng cứ phải là “những gì có thật”, những gì ở đây được hiểu là những tin tức, dấu vết, tình tiết, sự kiện có thật, phản ánh trung thực những tình tiết của vụ án đã xảy ra, không bị xuyên tạc hay bị bóp méo theo ý chí chủ quan của con người.
Chứng cứ có thê là sản phẩm của ý chí con người khi mà những tình tiết, sự kiện đó xuất phát từ hành vi của con người nhưng từ 11 khi được xác định là chứng cứ thì nó được tồn tại khách quan và độc lập với ý thức của con người. Hay nói cách khác con người không thé tạo ra chứng cứ mà chỉ có thể thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ. Chứng cứ khách quan được tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử, vật chứng, lời khai của đương sự, biên bản xem xét, thâm định tại chỗ, kết luận định giá tài sản, kết luận giám định. Tính khách quan này đòi hỏi bản thân các nguồn thông tin này phải có thật, không phụ thuộc vào khả năng của con người có nhận biết chúng hay không.
Khi chứng cứ có thuộc tính khách quan, giúp loại bỏ những tài liệu, vật chứng bi gia mạo, những lời khai gian dối không đúng sự thật của đương sự, người làm chứng., ví du: A căn cứ vào di chúc dé khởi kiện B chia di sản của ông C (là bố của A và B), B cho rang di chúc là giả mạo nên đề nghị Tòa án trưng cầu giám định. Kết luận giám định đã xác định di chúc không phải do ông C ký. Thứ hai, Tinh liên quan Chứng cứ có tính liên quan bởi nó chính là căn cứ dé Tòa án giải quyết VADS. Vì vậy giữa chứng cứ và tình tiết các sự việc cần chứng minh phải có mối liên hệ khách quan cơ bản với nhau.
Những tin tức, dấu vết dù tồn tại khách quan, có thật nhưng nếu không liên quan đến VADS sẽ không thê giúp Tòa án xác định có hay không có sự ton tại của các sự kiện cần chứng minh trong vụ an, do đó không được coi là chứng cứ.