CHƯƠNG I - MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN CHUNG VE FRANCHISE 1. LÝ LUẬN CHUNG VE FRANCHISE 1. Khái niệm franchise và sự ra đời của franchise Thông thường khi tìm hiểu một van đề nào đó người ta thường hay đặt ra câu hỏi “nó là gì, bắt đầu từ khi nào, hay nó xuất hiện khi nào?” và franchise cũng vậy. Tuy nhiên, thực sự ít người biết câu trả lời chính xác là nó xuất hiện vào thời điểm nào cũng như có thể đưa ra một định nghĩa đầy đủ và chính xác về nó.
Tác giả luận văn đã cố gắng tìm hiểu hình thái ban đầu của franchise là như thế nào, nó bắt nguồn từ đâu và đã tìm được một số thông tin. Từ Franchise có nguồn gốc từ tiếng Pháp cô là “franc” (có nghĩa là tự do). Trong từ điển Webmaster năm 1913, người ta định nghĩa “Franchise là một đặc quyên được nhà sản xuất trao cho một người hoặc một nhóm người để phân phối hoặc bán sản phẩm của chủ thương hiệu- Franchise is 1. A privilege or right granted a person or a group by government, state or sovereign.
Authorization granted by a manufacture to a distributor or dealer to sell his products” [52]. Con trong từ điển Anh-Viét của Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 1993: ” Franchise có nghĩa là nhượng quyển kinh doanh hay cho phép ai đó chính thức được bán hàng hoá hay dịch vụ của một công ty ở một khu vực nhất định.” [27] Hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của franchise, đã có nhiều khái niệm của nhiều quốc gia được nêu ra nhằm giải thích, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện họat động kinh doanh nhượng quyền đạt hiệu quả. Tuy vậy, do sự khác biệt về quan điểm và môi trường kinh tế, chính trị, xã hội giữa các quôc gia, nên các khái niệm này thường khác nhau. Hiệp hội franchise Quốc tế (The International Franchise Association - IFA), hiệp hội lớn nhất nước Mỹ và thế giới đã định nghĩa về franchise như sau: 10 "Eranchise là mối quan hệ theo hợp đồng, giữa Bên giao và Bên nhận quyên, theo đó Bên giao đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của Bên nhận trên các khía cạnh như: bí quyết kinh doanh (know-how), dao tạo nhân viên; Bên nhận hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hóa, phương thức, phương pháp kinh doanh do Bên giao sở hữu hoặc kiểm soát; và Bên nhận đang, hoặc sẽ tiễn hành đầu tư đáng kế vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình" [26].
Theo định nghĩa này, vai trò của Bên nhận quyền kinh doanh trong việc đầu tư vốn và điều hành doanh nghiệp được đặc biệt nhắn mạnh hơn so với trách nhiệm của bên nhượng quyên. Hội đông Thương mại Liên bang Hoa Ky (FTC) thì định nghĩa như sau: “Franchise là một hợp đồng hay thỏa thuận ít nhất là hai người hay hai đối tác, trong đó người mua franchise được cấp quyền bán hay phân phối sản phẩm, dịch vụ theo cùng một kế hoạch, chương trình của chủ thương hiệu. Hoạt động kinh doanh của người mua franchise phải triệt để tuân theo kế hoạch tiếp thị, gắn liền mới mục tiêu của chủ thương hiệu. Bên nhận quyền phải trả cho chủ thương hiệu một khoản phí trực tiếp hay gián tiếp gọi là phí franchise” [38].
Hợp đồng franchise này có thời hạn xác định, thông thường từ 5-10 năm. Định nghĩa này được xem là khá chuẩn và phù hợp với bản chất của từ franchise và phương thức kinh doanh này. Cộng đồng chung Châu Au EC (nay là liên minh Châu Âu EU) định nghĩa quyền thương mại là một "tập hợp những quyền sở hữu công nghiệp và sở hữu trí tuệ liên quan tới nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, biển hiệu cửa hàng, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, bản quyền tác giả, bí quyết, hoặc sáng chế 11 sẽ được khai thác dé bán sản pham, hoặc cung cấp dịch vụ tới người sử dụng cuối cùng” [38]. Có thê thấy, EU định nghĩa franchise theo hướng nhắn mạnh tới quyền của Bên nhận, khi sử dụng một tập hợp quyền sở hữu trí tuệ.
Mặc dù, ghi nhận vai trò của thương hiệu và hệ thống, bí quyết kinh doanh của Bên nhượng quyền, định nghĩa này không dé cập tới những đặc điểm khác của việc nhượng quyền kinh doanh. Trong khi đó, Luật Mêhicô đề cập tới lợi ích của franchise về mặt hỗ trợ kỹ thuật (technical assistance) và nhấn mạnh tới việc chuyên giao "kiến thức kỹ thuật" (technical knowledge) dé bán sản phẩm, hoặc dich vụ đồng bộ và có chất lượng. Luật sở hữu công nghiệp cua Méhicé có hiệu lực từ 6/1991 quy định: "Franchise tồn tại khi với một li-xăng cấp quyền sử dụng một thương hiệu nhất định, có sự chuyển giao kiến thức công nghệ hoặc hỗ trợ kỹ thuật để một người sản xuất, chế tạo, hoặc bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ đồng bộ với các phương pháp vận hành, các hoạt động thương mại, hoặc hành chính đã được chủ thương hiệu thiết lập, với chất lượng, danh tiếng, hình ảnh của sản phẩm, hoặc dịch vụ đã tạo dựng được dưới thương hiệu đó. Định nghĩa này phản ánh một phần quan điểm của Mêhicô là một nước đang phát triển có nhu cầu rất lớn trong việc nhập khẩu công nghệ và bí quyết kinh doanh từ nước ngoài.
Không đi vào cụ thể những khía cạnh của franchise, 7ổ chức sở hữu trí tuệ quốc tế (WIPO) lại đưa ra khái niệm được đánh giá là tương đối chính xác như sau: Franchise là khi bên nhượng quyền muốn phát triển hệ thống kinh doanh một mặt hàng/dịch vụ cụ thé của minh bang cách cho phép một chu thể khác (bên nhận quyền) được sử dụng hệ thống kinh doanh của bên nhượng 12 quyền đúng quy định, chuẩn mực theo thoả thuận, chịu giám sát cùng với sự hỗ trợ của bên nhượng. Mối quan hệ này diễn tiến liên tục suốt hoạt động kinh doanh của bên nhận quyền. Ngoài ra, trong Báo cáo dau tr thé giới (WIR) năm 2008, franchise còn được coi là một hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mà chủ đầu tư không năm vôn. Tất cả các định nghĩa về franchise trên đây đều dựa trên quan điểm cụ thể của các nhà làm luật tại mỗi nước.
Tuy nhiên, có thê thấy răng các điểm chung trong tất cả những định nghĩa này là việc một Bên độc lập (Bên nhận) phân phối (marketing) sản phẩm, hoặc dịch vụ dưới nhãn hiệu hàng hóa, các đối tượng khác của các quyền sở hữu trí tuệ, và hệ thống kinh doanh đồng bộ do một Bên khác (Bên giao) phát triển và sở hữu; để được phép làm việc này, Bên nhận phải trả những phí và chấp nhận một số hạn chế do Bên giao giám sát chặt chẽ. Ở Việt Nam, Luật thương mại của Quốc hội nước Việt Nam số 36/2005/QHI1 ngày 14/6/2005 định nghĩa: “Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dich vụ theo các điều kiện dưới đây: 1. Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khâu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền; 2. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyên trong việc điêu hành công việc kinh doanh.” 13 Tóm lại, dù theo định nghĩa của thế giới hay Việt Nam thì về tổng thể có thé hiểu định nghĩa về franchise như sau: Franchise là phương thức kinh doanh mà theo đó, Bên nhượng quyền (Franchisor, doanh nghiệp sản xuất hoặc mua bán hoặc dịch vụ) cho phép Bên nhận quyền (Franchisee, doanh nghiệp kinh doanh độc lập) sử dụng nhãn hiệu hàng hóa, khâu hiệu kinh doanh và bí quyết kinh doanh hoặc quy trình vận hành hệ thống kinh doanh.
Ngược lại, Bên nhận quyền phải trả phí ban dau, gồm: phí nhượng quyền (Franchise fee), phí lãnh thé (territorial fee) trong trường hợp ký hop đồng qua Bên nhượng quyền của khu vực) và phí ban quyền (royalty fee) khi kinh doanh hoặc cũng có một số hệ thống nhượng quyền thu phí cố định trả một lần trong thời gian nhượng quyên. Bên nhượng quyền sẽ đem lại cho bên nhận quyền sử dụng nhãn hiệu. Tuy nhiên, bên nhận quyền vẫn phải chịu sự kiểm soát trong quá trình kinh doanh dưới nhãn hiệu đã đăng ký. Ở trên, luận văn đã tong hop rất nhiều khái niệm khác nhau về franchise để chứng minh tính thời sự cũng như vai trò quan trọng của franchise trong môi trường kinh doanh hiện đại ngày nay.
Ngay cả khi nói về lịch sử phát triên franchise cũng có nhiều ý kiên trái ngược nhau về nơi ra đời của nó. Tuy nhiên, nguồn gốc của franchise theo nhiều tài liệu nghiên cứu được cho là bắt đầu từ Trung Quốc nhưng thực sự đã có từ thời Trung cé (tức là vào khoảng những năm 400 trước công nguyên). Vào thời đó, người có quyền lực tối cao ở địa phương hay chúa đất được trao quyền nắm giữ, quản lý các khu chợ hay hội chợ, điều hành hệ thống phà tại địa phương hay săn bắn trên lãnh thổ của mình, đưa ra các mức thuế. Nhờ hình thức này, nhà vua cấp quyên cho mọi hình thức hoạt động kinh doanh như xây dựng đường xá, sản xuât rượu, bia.Thuc chat là nhà vua trao quyên cho một người nào đó độc 14 quyền một loại hình hoạt động kinh doanh nhất định nào đó.
Những người được cấp quyền được phép giữ lại một tỷ lệ trên số tiền mà họ thu được, và số còn lại thì giao lại cho nhà vua. Như vậy, mối quan hệ rất sớm, sơ khai đầu tiên về franchise đã được ghi nhận trong lịch sử mà sau này nó được mở rộng, phát triển thành kinh doanh nhượng quyền thương mai. Trải qua nhiều thế kỷ, franchise đã phát triển giống như một hệ thống kinh tế quốc gia ở các nước phát triển. Vào đầu thế kỷ 19 ở Anh cũng đã thấy xuất hiện phương thức franchise khi chủ các quán rượu do những khó khăn về tài chính đã phải nhờ đến sự trợ giúp của các nhà máy sản xuất rượu.
Và dé đôi lại, họ duoc yêu cầu phải mua tất cả số rượu mà nhà máy đó sản xuất ra. Đây chính là sự khởi đầu của một hệ thong franchise mặc dù khi đó các nhà máy sản xuất rượu không có bất kỳ sự ràng buộc nào đối với các chủ quán rượu. Họ chỉ muốn tìm dau ra cho sản phâm của họ và cho phép chủ các quán rượu được tự do kinh doanh theo ý muốn. Nói khác đi, họ đã bán hàng thông qua hình thức cấp quyền cho chủ các quán rượu được phép bán rượu của họ.