BỘ TƯ PHÁP 'TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI KY YEU HOI THẢO KHOA HỌC Ha Nội, 10/2018. MỤC LỤC SIT CHUYEND) TRANG MOT SỐ VAN DE CHUNG VE QUAN TRI ĐẠI HỌC HIỆN ĐẠI ‘TSKH. Phạm Đỗ Nhật Tiền Bộ Giáo dục đảo tạo KHẤT QUÁT VE QUAN TRI ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM VÀ NHONG VAN DE CAN GIẢI QUYẾT 'TRONG THỜI GIAN TOL Is ‘TS. Trần Kim Liễu “Trường DH Luật Hà Nội QUAN TR] ĐẠI HỌC Ở LIEN BANG NGA.
Bai Ding Hiểu 4 “Trường DH Luật Hà Nội QUẦN TRI ĐẠI HỌC Ở PHÁP VA MOT SO KINH NGHIỆ: CHO VIỆT NAM. Bùi Minh Hồng, “Trường ĐH Luật Hà No MO HÌNH QUAN TR] ĐẠI HỌC HIỆN ĐẠI Ở NHẬT BAN 'VÀ MOT SO KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 40 TS. Phan Thi Lan Huong Trường ĐH Luật Ha Nội MO HÌNH QUAN TRI ĐẠI HỌC Ở HOA KỲ VÀ ˆ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 48 ‘ThS. Phạm Quý Dat "Trường DH Luật Hà Nội ‘QUAN TRI ĐẠI HỌC TẠI PHAN LAN VA KINH NGHIỆM` CHO VIỆT NAM 6 Thể.
Bùi Thị Minh Trang, “Trường DH Luật Ha Nội ‘MO HÌNH QUAN TR] DAT HỌC HIỆN ĐẠI Ở SINGAPORE TS. Lưu Huong Ly 0 BO Tư Pháp. — Mõ HÌNH QUAN TRI ĐẠI HỌC HIỆN ĐẠI Ở CONG HOA LIÊN BANG ĐỨC Bộ Tư Pháp MO HINH QUẦN TRI ĐẠI HỌC TẠI HÀN QUỐC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM. Đỗ Thị Anh Hồng “Trường ĐH Luật Hà Nội QUAN TRI ĐẠI HỌC TẠI HONG KONG VA MOT SO 'KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM " ThS.
Đặng Thị Hồng Tuyến “Trường ĐH Luật Hà Nội ‘MO HIN QUAN TR] ĐẠI HỌC Ở MALAYSIA VÀ. BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM. Hà Thị Út “Trường Đại học Luật Hà Nội (QUAN TR] ĐẠI HỌC TẠI CANADA VA BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 104 “ThS. Phạm Minh Trang.
“Trường ĐH Luật Hà Nội MO HINH QUAN TRI ĐẠI HỌC TẠI ÚC VA BATHOC | KINH NGHIỆM CHO VIET NAM 4 mi ThS. Đỗ Thị Anh Hồng, “Trường DH Luật Hà Nội. SỐ VAN ĐÈ CHUNG Vit QUAN TRI DAI HỌC HIỆN ĐẠI. Phạm Đỗ Nhật Tiến 1.
Mỡ đầu Quản trị là một khái niệm rộng có thé hiểu theo nhiều cách. Trong Bách khoa. toàn thư Việt Nam, quản trị được hiểu là "Hoạt động quản If của một xí nghiệp hay của một tổ chức kinh doanh, bao gồm quản lí về các mặt sản xuất và kĩ thuật, tài và kế toán, thương mại, bành chính, nhân sự, vv. Như vậy, ở đây quản trị được đánh đồng với quản lý.
Cách hiển này cũng khá phé biến trong các bài viết, các tham luận liên quan đến quản lý. Trong văn thư quốc té, hai thuật ngữ governance (quản trị) và management (quân lý) cũng được nhiều tác giả sử dụng một cách song hành, thay thế cho nhau. ‘Tuy nhiên, trong các nghiên cứu sâu về quản trị thì cần làm rõ sự khác biệt giữa. quản trị và quản lý.
Thông thường, sự khác biệt đó là như sau; Quản trị là việc hoạch định chiến lược, các myc tiêu vĩ mô, các kế boạch, chính sách và giải php thực biện; cồn quản lý là việc tổ chức thực hiện các kế hoạch, chỉnh sách, giải pháp để hướng đến các mục tiêu do quản trị đề ra. Nói cách khác quản trị trả lời câu hỏi cái gì và bao. giờ trong tổ chức và hoạt động của một tổ chức/đơn vi, còn quản lý trả lời câu hôi ai va như thế nào trongtổ chức và hoạt động của tổ chức/đơn vị đó. Trong giáo dục, phỏng theo sơ đồ của Crouch và Winkler (2009), có thể mô tả mồi quan hộ giữa quản trị và quản lý như sau: Chiến lược, mye tiêu, kỷ tích thể chế log yd vấn đ gia đục ecm OS ‘hye hia theo mục tiêu Cơ gan quản Giải trình.
wy 1 “Thông tin vB kết gu thực Chiên giải hiện theo chỉ tiêu. pháp, nguồn lực. "hán hồi chất lượng dạy và học : TT oo [>| Paice ime huynh, cộng đồng. Licitiisd ‘Trin khái pda Vi quản trị là một khái niệm đa cấp, nên so đồ trên có thé áp dung một cách.
phù hợp cho các cắp khác nhau. Chẳng hạn ở cấp trung ương thì cơ quan quân trị là. “Nhà nước (quốc hội và chính phổ), cơ quan quản lý là các bộ, ngành, chính quyền địa phương; don vị cung ứng giáo dục là các nhà trường. Cdn ở cấp cơ sở GDĐH thì cơ quan quản tr là hội đồng trường, cơ quan quản lý là ban giám hiệu, đơn vj cung ứng, giáo dục là các khoa, phòng, bộ môn.
`Với cách hiểu như vậy về quản trị và quản lý, báo cáo này sẽ trình bày một số. vấn để chung về quản trị đại học hiện đại. Cụ thể như sau: mục 2 làm rõ xu thé đổi mới quản trị đại học, mục 3 phân loại các mô hình quản trị đại học, mục 4 tìm cách đánh giá quản trị đại học. Cuối cùng mục 5 là kết luận.
Xu thé đôi mới quản trị đại học 21 Xu thé chưng - Ngày nay GDĐH đang có những biến đổi nhanh chóng trên phạm vi toàn thé giới. Hội nghị GDĐH thế giới tổ chức vào tháng 7/2009 tại UNESCO Paris đã tìm ‘cach nhận dạng, phân tích và chỉ ra bẫy động lực mới của GDDH. Trước hết là sự gia tăng của nhu cầu nhập hoc đại học, chuyển GDĐH từ tình hoa sang đại chúng. Thứ hai là sự đa dang hóa gin liền với quá trình mở rộng quy mộ, toàn cầu hóa và phát triển công nghệ thông tin.
Thứ ba là sự tăng cường hợp tác và liên kết mạng trong. nghiên cứu khoa học, sản sinh và chia sẽ tri hức. Thứ tư là sự hình thành và phát triển của yêu cẩu học tập suốt đời. Thứ năm là tác động của công nghệ thông tin và truyền.
thông lên tổ chức và hoạt động của nhà trường. Thứ sáu là sự đề cao trách nhiệm xã hội của các trường đại học trong việc tham gia giải quyết các bài toán kinh. hội của đất nước, cũng như các vấn đề toàn cầu. Và động lực cuối cùng chính là sự thay đổi vai trò của chính phủ, một hệ quả tắt yếu từ tác động của những động lực trés ‘Vi thé, hệ thống GDĐH ngày nay đã khác trước rất nhiều, Đó là một hệ thong có cấu trúc da ting, có sự tham gia của nhiều chủ thé, có những, phức hợp theo nghĩa ‘yeu cầu ngày cảng cao và phức tạp từ phía nha nước, người học và xã hội.
Do đó ở "hầu như mọi quốc gia các chính phủ đều đứng trước yêu cầu cải cách quản trị GDDH. D6 là vì quản trị GDDH, bao gồm quản lý nhà nước về GDĐH và quản trị cơ. sở GDĐH, luôn được coi là đồng vai trò cơ bản trong việc bảo đảm GDĐHH thực thi được sứ mệnh đa chiều của nó trong phát triển nhân cách người học, truyền bá và sản. sinh tri thức, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội.
Dù có nhiều khác biệt từ quốc gia này sang quốc gia khác trong cải cách quản trị giáo dục nói chung, GDĐH nói riêng, nhưng có thể chỉ ra một xu thế chung là chuyển từ mô hình nhà nước kiém soát sang mô hình nhà nước giảm sát. Dic trưng cơ bản trong mô hình nha nước kiểm soát là mỗi quan hệ chỉ đạo, điều hành mang tính một chiều và áp đặt từ nhà nước đến nhà trường, trong đó nhà. nước đồng vai trò chủ thể chính và duy nhất trong cung ứng và quản trị giáo dục. M6 'hình này đã tỏ ra thích hợp trong gan suốt chiều dài của thé kỷ 20 khi môi trường kinh.
tế-xã hội khá én định và ít cạnh tranh, hệ thống giáo dục chưa phức tap, nhu cầu xã. hội đối với giáo dục về quy mô, chất lượng và hiệu quả còn ở mức độ vừa phải. Tuy nhiên, khi hệ thống giáo dục trở nên phức hợp, với sự tham gia ngày càng. lớn mạnh của hai chủ thể mới là thị trường và xã hội dân sự trong cung ứng và quản.
trị giáo dục, thì nhà nước chuyển din vai t từ kiểm soát sang giám sát với những đặc rừng cơ bản sau đây: Về OLNN, vai trò của chính phủ đã khác trước: chính phủ phải tập trung vào quản lý vĩ mô, với trọng tâm nâng cao chất lượng và đảm bảo công bằng xã hội; chính. phủ phải nâng cao khả năng dự báo, có tầm nhìn và chiến lược hướng đến sự thay đôi; chính phủ phải huy động và tạo điều kiện dé các tổ chức xã hội dân sự và thị trường. tham gia phát triển giáo đục; chính phủ phải đây mạnh phân cấp và trao quyền, đi đôi với trách nhiệm giải trình, đảm bảo tính công khai, minh bạch, tin cậy trong các thông ‘tin về giáo due; chính phù phải tách QLNN với quản tr cơ sở giáo dục, Về quản trị cơ sở giáo dục, vai trò của người đứng đầu cơ sở cũng đã khác trước. Người đứng đầu được giao quyền tự chủ nhiều hơn trong các quyết định về chuyên môn, tổ chức, nhân sự và tài chính; người đớng đầu có động lực nhiều hơn giải trình cao hơnvề hiệu quả chỉ phí, về chất lượng giáo dục, về kết quả học tập đầu.
trong việc thực thi nhiệm vụ quản lý. Đồng thời, người đứng đầu chịu trách nhiệm 2 của cơ sở giáo dục; người đứng đầu cũng chịu áp lực cạnh tranh cao hơn trong việc, đáp ứng nhu cầu của người học, nhu cầu của xã hội va thị trường lao động. “Xu thé chung là vậy. Nó được phản ánh trước hết trong xu thé đội mới thé chế GDDH.
Trước hết, ở các nước phát triển là sự hình thành “một thé hệ mới” các văn ban chính sách và pháp luật GDĐH nhằm tạo một khung khổ pháp lý mới trong đó. các quy định của chính phủ được nới lỏng để các cơ sở GDĐH có nhiều quyền tự chủ. hhon trong việc nâng cao tính cạnh tranh, tinh đa dang, chốt lượng và hiệu quả tro đào tao và nghiên cứu (UNESCO, 2004). Ở các nước kinh tế chuyên đổi, luật pháp ví 'GDĐH được làm mới hoàn toàn: để hội nhập thành công với tiền trình Bologna, một số nước Đông Âu đã thay đổi hẳn khung khổ pháp lý GDĐH để “ xây dựng các cơ cấu quản trị và quản lý mới, thay đổi mối quan hệ trước đây giữa chính quyền với các.
cơ sở GDDH, tạo điều kiện để trường đại học có quyền tự chủ, trách nhiệm giải trình va khuyến khích phát triển các quá trình dân chủ trong nhà trường”, Ở các nước dang phát triển, do hệ thống luật pháp còn nen trẻ, nên nhìn chung các văn bản về luật GDDH đều là mới, thường là luật khung, với cách tiếp cận từng bước trong việc nới. lông vai trò kiểm soát của chính phủ va tăng dan quyền tự chủ cho các cơ sở GDĐH.2 Đỗi mới quản trị nhà trường.