Chương 1 gồm 4 mục nghiên cứu một số van đề lý luận về giao dịch thanh toán qua ví điện tử; - Chương 2 gồm 5 mục nghiên cứu các quy định về giao dịch thanh toán qua ví điện tử trong hệ thống pháp luật của Trung Quốc, Singapore, Indonesia và Hoa Kỳ, đưa ra những đánh giá và kinh nghiệm trong việc xây dựng các quy định pháp luật điều chỉnh giao dịch thanh toán qua ví điện tử; - Chương 3 gồm 3 mục nghiên cứu về các quy định về ví điện tử tại Việt Nam, thực trạng thực thi những quy định định này, nguyên nhân dẫn đến các vấn đề mà thực tiễn đang gặp phải, đồng thời kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam điều chỉnh về giao dịch thanh toán qua ví điện tử và đưa ra dự báo kết quả cho việc áp dụng các giải pháp đã nêu. PHẢN NỘI DUNG CHUONG 1: MỘT SO VAN DE LÝ LUẬN VE PHÁP LUẬT DIEU CHINH GIAO DICH THANH TOAN QUA VI DIEN TU 1.Tổng quan về thanh toán điện tử 1. Khái niệm thanh toán điện tử Sự bùng nỗ của công nghệ thông tin và Internet trong những năm qua đã tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển của thương mại điện tử”. Với tốc độ phát triển nhanh chóng, Internet và thương mại điện tử không chỉ làm thay đổi cách thức mua hàng truyền thống của người tiêu dùng, giúp họ có thể mua các sản phẩm, dịch vụ ở bất cứ dau, bat cứ khi nào”; mà còn thay đôi cả môi trường kinh doanh trên thế giới, giúp các giao dịch có thể hình thành và phát triển trên chính các nền tảng thương mại điện tử.
Từ đó, các giải pháp thanh toán điện tử thay thế các hệ thống thanh toán bằng tiền mặt đã xuất hiện.” Sự xuất hiện của thanh toán điện tử đã thu hút sự chú ý của rất nhiều các nhà nghiên cứu, học giả trên thé giới, nên cũng đã có những tranh luận, quan điểm khác nhau giữa các nhà nghiên cứu, học giả này khi đưa ra khái niệm, định nghĩa thanh toán điện tử là gì. Theo định nghĩa của Peter và Babatunde cho rằng thanh toán điện tử là một phương thức chuyên khoản qua Internet.’ Dưới góc độ của Teoh, Chong, Lin và Chua lại coi thanh toán điện tử như bất kỳ chuyển giao của một giá trị thanh toán điện tử của người nộp để thụ hưởng thông qua một kênh thanh toán điện tử cho phép người tiêu dùng truy cập từ xa và quản lý tài khoản ngân hàng và giao dịch qua mạng điện tử.” Còn theo Kaur thì cho rằng thanh toán điện tử là các khoản thanh toán trong môi trường thương mại điện tử với hình thức trao đổi tiền thông qua các phương tiện điện tử.!? Ngoài ra, ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Hoài Anh và Ao Hoài Thu cũng đưa ra định nghĩa của mình về thanh toán điện tử là việc thanh toán thông qua các thông điệp dữ liệu, đồng thời toàn bộ quá trình thanh toán sẽ được thực hiện một cách tự động > Khái niệm “thương mại điện tử” theo Ủy ban Châu Âu được hiểu là “việc mua bán hang hóa hoặc dịch vụ, giữa các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân hay tô chức tư nhân, thông qua các giao dịch điện tử được thực hiện qua Internet hoặc các mạng trung gian máy tính (giao tiếp trực tuyến) khác”. Pháp luật Việt Nam cũng có cách tiếp cận khái niệm này dưới góc độ khá tương tự trong Nghị định 52/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 05 năm 2013 về Thương mại điện tử đã định nghĩa hoạt động thương mại điện tử là “việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác. (2007), Consumer behaviour in online shopping, Kristianstaad University Department of Business Studies.
(2004), Electronic Payment System: User-Centered Persnective and Interaction Design, Eindhoven, Netherland: Technische. E-Payment: Prospects and Challenges in Nigerian Public Sector. International Journal of Modern Engineering Research, 5(2), 3104-3106. '© Kaur Manjot (2012), E-Commerce, Kalyani Publcation, New Delhi.
9 thông qua các phương tiện điện tử va hệ thống thông tin điện tử mà sé không có su xuất hiện của giấy tờ.!! Còn tác giả Lê Trung Cang cũng đưa ra định nghĩa của mình về thanh toán điện tử là hình thức thanh toán không sử dụng tiền mặt mà thông qua các giao dịch thực hiện trên Internet, thông qua các loại thẻ, ví điện tử, séc điện tử, chuyên khoản.!2 Tóm lại, dù có nhiều định nghĩa khác nhau về thanh toán điện tử, song, dựa theo các quan điểm trên, có thé hiểu đơn giản thanh toán điện tử là bất kỳ giao dịch thanh toán nào qua các thông điệp dit liệu và được thực hiện thông qua các thiết bị điện tử và không có sự xuất hiện của giấy tờ. Dé hiểu rõ hơn khái niệm này, can phải làm rõ “thông điệp dữ liệu” là gì? Theo Khoản 12 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử 2019 thì “thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử”. Thông điệp điện tử thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác. Cũng theo Khoản 10 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử 2019 thì “phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự.” Định nghĩa ở đây trong luật Việt Nam khá giống với định nghĩa trong Luật mẫu về Thương mại điện tử của Ủy ban Liên Hợp quốc về Luật thương mại Quốc tế (UNCITRAL)!3, qua đó thấy được, pháp luật Việt Nam đang ngày càng phát triển và bắt kịp xu hướng công nghệ mới để dần hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước về N ^ thương mại, đặc biệt là thương mại điện tử.
Các phương thức thanh toán điện tw Các phương thức thanh toán điện tử phổ biến hiện này! gồm: - Thanh toán bằng thẻ: Gồm thanh toán bang thẻ tin dụng và thanh toán bang thẻ ghi nợ. Trong đó, thanh toán bang thẻ tin dụng là hình thức thanh toán phổ biến nhất, theo đó, người chủ thẻ được sử dụng một hạn mức tín dụng tuần hoàn để mua sắm hàng hóa, dịch vụ tại những cơ sở chấp nhận loại thẻ này. Còn thanh toán bằng thẻ ghi ' TS. Nguyễn Hoài Anh — ThS.
Ao Hoài Thu (2007), Thương mại điện tử, Nxb Bưu Điện, tr. Lê Trung Cang — Trường Dai học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (5/2020), “Thanh toán điện tử - Điều kiện phát triển và giải pháp”, Tạp chí Công thương số 14 tháng 5 năm 2020, https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/thanh-toan-dien-tu-dieu-kien-phat-trien-va-giai-phap- 73719. ; '*Trong Luật mẫu vê Thương mai điện tử của UNCITRAL thì “thông tin dữ liệu” được hiểu là “thông tin được tao, gửi, nhận hoặc được lưu trữ bằng phương tiện điện tử, quang học hoặc các phương tiện tương tự bao gồm, nhưng không giới hạn ở, trao đôi dữ liệu điện tử (EDD, thư điện tử, điện tín, telex hoặc telecopy”.
!4 Vũ Văn Điệp — Khoa Hệ thống thông tin, Trường Đại học Kinh tế-Luật (28/11/2017), “Tổng quan về thanh toán điện tử tại Việt Nam”, Tạp chí Công thương số 10 thang 09/2017, http://tapchicongthuong.vn/bai-viet/tong-quan-ve-thanh-toan-dien-tu-tai-viet-nam-51078. 10 nợ thì chủ thẻ có thé chi trả tiền hàng hóa, dịch vụ dựa trên số dư tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản tiền gửi thanh toán của mình tại Ngân hàng phát hành thẻ. Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc vào số dư hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ và số tiền khi thanh toán sẽ được khấu trừ vào ngay tài khoản của chủ thẻ thông qua thiết bị điện tử đặt tại cơ sở chấp nhận thẻ. - Thanh toán qua cổng thanh toán (hay công thanh toán điện tử, công thanh toán trực tuyến): Là dịch vụ trung gian thanh toán giữa người mua, người bán và các ngân hàng.
Trong mỗi giao dịch thanh toán, mua hàng trên mang Internet, cổng thanh toán sẽ hỗ trợ người mua có thé dùng tài khoản ngân hàng dé chi trả cho hóa đơn của minh. - Thanh toán thông qua dịch vụ ngân hàng trên Internet (Internet Banking): Là một loại hình dịch vụ ngân hàng hiện đại nhưng có tốc độ phát triển nhanh chóng, cho phép khách hàng có thể giao dịch qua ngân hàng trên nền tảng mạng Internet vào bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi đâu mà khách hàng cho là phù hợp nhất. - Thanh toán băng ví điện tử: Là một loại hình dịch vụ trung gian thanh toán thiết kế dưới dạng một phần mềm hoạt động trên nền tảng Internet có thông qua sự hỗ trợ trung gian của một công ty cung cấp dịch vụ thanh toán trực tuyến. Khi người dùng có tài khoản trên các ví điện tử này có thê liên kết với tài khoản ngân hàng để chuyên tiền giữa ví và tài khoản và tiến hành thanh toán trên một số website đã chấp nhận ví.
Khái niệm, đặc điểm và vai trò của giao dịch thanh toán qua ví điện tử 1. Khái niệm giao dịch thanh toán qua ví điện tw Giao dịch thanh toán qua ví điện tử hay gọi tắt là ví điện tử trước hết được hiểu là một giao dịch thanh toán hoạt động trên nền tảng Internet và thông qua các thiết bị điện tử nên như trình bày ở trên có thé xếp ví điện tử vào một trong các một phương thức thanh toán điện tử. Dựa trên cách thức hoạt động và sử dụng của ví điện tử, có thể hiểu rằng băng cách tạo lập một nền tảng ứng dụng ví điện tử trên mạng Internet, các công ty cung cấp dịch vụ thanh toán trực tiếp sẽ cho phép người dùng đăng ký một tài khoản — tương tự như việc thiết lập một chiếc ví điện tử cá nhân — trên ứng dụng của nhà cung cấp. Qua đó, người dùng có thé thực hiện giao dịch thanh toán qua ứng dụng đó trên các thiết bị công nghệ có kết nối với Internet như di động, máy tính,.
mà không cần thực hiện thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt hay sử dụng thẻ ngân hàng, nhờ đó mà việc thanh toán giữa người tiêu dùng và bên bán trở nên thuận lợi, nhanh chóng hơn. 11 Tuy nhiên, dưới góc độ pháp ly thì vi điện tử cũng chưa có một khái niệm thống nhất. Phòng thương mại quốc tế (International Chamber of Commerce - ICC) đã nêu giải thích như sau: “Ví điện tử là một hệ thống dựa trên phần mềm để thực hiện các giao dịch thương mại điện tử. Bằng cách sử dụng ví điện tử, việc thanh toán trực tuyến có thé dé dang được thực hiện thông qua rất nhiều thiết bị, bao gồm máy tính, may tính bảng và điện thoại thông minh.