CHƯƠNG 1 Kết quả nghiên cứu bao gồm các nội dung sau: Thứ nhất, khái niệm về NCTN tại Việt Nam được sử dụng trong cả lĩnh vực dân sự và hình sự, trong đó quy định NCTN là người dưới 18 tuổi. Thứ hai, khái quát về xử ly NCTNVPPL bằng xử lý chuyên hướng và tư pháp phục hoi dựa trên ba yếu tố: khái niệm, các chuẩn mực quốc tế và một số mô hình tiêu biểu. Thứ ba, đưa ra khái niệm: “Thiết chế dựa trên cộng dong trong xử lý NCTNVPPL là những thiết chế hoạt động dựa trên một phần hoặc toàn bộ vào cộng đồng, cụ thể hơn là dựa trên năng lực, sức mạnh và trách nhiệm của cộng dong, tức nên tảng của những thiết chế này chính là những người cùng sống và gắn bó với nhau thành một khối trong sinh hoạt xã hội ở một địa điểm địa lý nhất định bao gồm các ca nhân, gia đình va tổ chức nơi NCTNVPPL sinh sống, có vai trò tích cực và tham gia vào việc hỗ trợ xử lý NCTNVPPL.” Thứ tu, thiết ché dựa trên cộng đồng trong xử ly NCTNVPPL có năm đặc điểm: (1) không có tính quyền lực nhà nước; (2) chi phí thấp; (3) dựa trên năng lực, sức mạnh và trách nhiệm của cộng dong; (4) có tính linh hoạt, cơ động va bao gồm nhiều loại mô hình khác nhau; (5) đem lại sự hỗ trợ lớn cho tư pháp chính thống. Những đặc điểm này được rút ra từ việc xem xét, đánh giá bản chất của thiết chế cũng như đối chiếu với thực tiễn các mô hình thiết chế dựa trên cộng đồng trên thế giới.
Đây là năm đặc điểm chính giúp phân biệt thiết chế dựa trên cộng đồng trong xử lý NCTNVPPL với các thiết chế khác, ngoài ra có thê còn các đặc điêm khác tuy thuộc vào từng thiệt chê cụ thê. SO SÁNH MÔ HÌNH THIẾT CHE DỰA TREN CONG DONG TRONG XU LY NGUOI CHUA THANH NIEN VI PHAM PHAP LUAT O CANADA, NEW ZEALAND, AUSTRALIA VA NAM PHI 2. Phap luật và mô hình thiết chế dựa trên cộng đồng trong xử ly người chưa thành niên vi phạm pháp luật ở Canada, New Zealand, Australia và Nam Phi Trên thế giới hiện nay đã có nhiều quốc gia áp dụng thiết chế dựa trên cộng đồng trong xử lý NCTNVPPL, đặc biệt là ở những nước phát triển và có nền tư pháp dành cho NCTN được đặt nền móng từ rất sớm. Việc nền tư pháp dành cho NCTN phát triển tại những quốc gia này đã tạo tiền đề vững chắc dé thiết chế dựa trên cộng đồng được áp dụng một cách rộng rãi phố biến, cũng như da dạng hoá các thiết chế cộng đồng sao cho phù hợp với từng địa phương và từng vùng miền sở hữu các đặc trưng văn hoá khác nhau.
Không chỉ vậy, một số quốc gia còn có những thiết chế truyền thống dựa trên cộng đồng đã có sẵn từ lâu đời để xử lý NCTNVPPL, những thiết chế truyền thống này được xây dựng trên cơ sở văn hoá bản địa độc đáo. Do giới hạn của nghiên cứu và đặc trưng của thiết chế dựa trên cộng đồng trong xử lý NCTNVPPL, trong phần này nhóm nghiên cứu giới thiệu khái quát các quy định của pháp luật liên quan đến thiết chế dựa trên cộng đồng trong xử lý NCTNVPPL - nền tảng và tiền đề của các thiết chế và tập trung phân tích một số thiết chế dựa trên cộng đồng trong xử lý NCTNVPPL điển hình ở từng quốc gia. Đặc biệt, các quốc gia này có nền tư pháp cho NCTN phát triển trên thế giới và đều là những quốc gia đi đầu trong thực hiện xử lý chuyền hướng hoặc tư pháp phục hồi khi xử lý NCTNVPPL. Những quốc gia đó bao gồm Canada, New Zealand, Australia và Nam Phi.
Pháp luật Canada có liên quan Canada là quốc gia được biết đến với hệ thông pháp luật về NCTN đã trải qua thời gian đài hơn một thế kỷ phát triển và hoàn thiện. Đứng trước thực trạng NCTNVPPL phải thi hành án cùng với những phạm nhân trưởng thành trong các nhà tù thường quá đông đúc và xảy ra trường hợp công lý không đồng đều hay có những hình phạt cực đoan!?, Dao luật về người chưa thành niên vi phạm pháp luật - Juvenile Delinquents Act 1998 (JDA) được Canada xây dựng và ban hành cho thay quốc gia này đã nhận thức được NCTN can có một hệ thống tư pháp của riêng mình trong việc xử lý những hành vi VPPL. Bên cạnh đó, dé việc áp dụng đạo luật đạt được hiệu quả cao, Canada đã xây dựng và đưa vào hoạt động Tòa án NCTN đầu tiên tại Thành phố Winnipeg vào ngày 30 tháng 1 năm 1909 và bồ nhiệm Thomas Mayne Daly - một luật sư, chính trị gia người Canada làm thâm phán.!! Sau hon 70 năm áp dụng với một lần sửa đổi vào năm 1929, vào ngày 7 tháng 7 '0 Department of Justice of Canada, 2004, The Evolution of Juvenile Justice in Canada, p6 '! Lorinda Stoneman, Community-Based Responses to Youth Offending: Politics, Policy and Practice Under the Youth Criminal Justice Act, 2016, p.25 iS năm 1982, Quốc hội Canada đã ban hành Dao luật về tội phạm thanh thiếu niên - Young Offenders Act (YOA) nhằm thay thé cho JDA.!? Chính phủ nước này cũng tuyên bố sẽ mang lại một cuộc cải cách lâu dài đối với hệ thống tư pháp dành cho NCTN của Canada. Trong đạo luật mới này đã bước đầu xuất hiện các quy định liên quan đến việc xử lý NCTNVPPL bằng các biện pháp dựa trên cộng đồng.!3 Cụ thé là cho phép lựa chọn gửi NCTN tới các trung tâm dân cư, nhà tap thé, cơ sở chăm sóc tại cộng đồng địa phương nơi ho sinh sống hoặc có thé được bao mật gửi đến một trung tâm cải huấn.
NCTN chỉ có thể bị kết án trong những trường hợp nhất định liên quan đến mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm và tuổi tác cũng như tiền án của người đó, và trong những trường hợp mà tòa án cho răng việc giam giữ là cần thiết để bảo vệ xã hội và có liên quan đến nhu cầu và hoàn cảnh của NCTNVPPL. Đạo luật cũng cho phép mỗi bang thiết lập "các biện pháp thay thế", theo đó, thay vì phải giải trình trước tòa án về một hành vi VPPL, những NCTN có thê nhận trách nhiệm về hành vi đó và đồng ý bồi thường cho nạn nhân hoặc tham gia vào một chương trình phục vụ cộng đồng, giáo dục hoặc phục hồi. Tuy nhiên, trong quá trình áp dung, đạo luật mới này cho thấy còn tồn tại nhiều sự bất công, ví dụ như việc giới hạn độ tuôi khác nhau đối với NCTN ở những bang khác nhau. Bên cạnh đó, đạo luật này cũng được cho là thiếu tính răn đe bởi thực tế cho thay sau khi YOA được thông qua, sỐ lượng tội phạm bạo lực được thực hiện bởi NCTN đã tăng vọt ở Canada, với một sỐ lượng lớn người tái phạm.
Tỷ lệ tội phạm bạo lực tăng đều đặn trong suốt những năm 1980, duy trì ở mức cao trong suốt những năm 90 và đã tăng lên ké từ năm 1999, Đối mặt với thực trạng đó, Chính phủ Canada đã cô gang khắc phục hệ thống tư pháp NCTN bang nhiều lần sửa đổi!Š. Tuy nhiên, một nghiên cứu năm 1998 cho thay 70% người Canada tin rằng các bản án dành cho những NCTNVPPL vẫn còn quá khoan héng!®. Trong bối cảnh áp lực gia tăng, Bộ trưởng Tư pháp, Anne McLellan!’, đã đưa ra Đạo luật Tư pháp NCTN - Youth Criminal Justice Act (YCJA) vào năm 2002 dé thay thé cho YOA và dao luật này chính thức có hiệu lực năm 2003 cho tới nay. YCJA có nhiều điểm tương đồng với JDA và YOA.
Sự khác biệt chính là đạo luật hiện tại đưa ra các nguyên tắc rõ ràng dé điều chỉnh việc truy tố và kết án thanh thiếu niên. Bên cạnh đó, đạo luật cũng khuyến khích rằng các biện pháp dựa vào cộng đồng hiệu quả hơn để xử lý đối với hầu hết NCTNVPPL. Điều đó được thê hiện trong Tuyên bố Nguyên tắc: 12 Margaret Mary Donnelly, Jim Robb, Juvenile Justice Systems, The Canadian Encyclopedia, https://www.ca/en/article/juvenile-justice-systems truy cập lần cuối ngày 15/01/2021 !3 Justice Monitor, Youth Justice in Canada, www.ca/youthoffenders truy cập lần cuối ngày 03/12/2020. !# Theo thống kê của Trung tâm Thống kê Tư pháp Canada - Canadian Centre for Justice Statistics.
'S Đạo luật về tội phạm chưa thành niên được sủa đổi 4 lần vào các năm 1986, 1992, 1995. !® Theo Statistics Canada. !7 Anne McLellan là Bộ trưởng Bộ Tư pháp Cannada từ năm 1997 đến năm 2002. 16 “Mục dich của hệ thong tu pháp chưa thành niên là ngăn chặn tội phạm bằng cách giải quyết các tình huống gây ra hành vi phạm tội của NCTN, phục hoi những NCTN phạm tội và tái hòa nhập xã hội, và đảm bảo rằng NCTN phải chịu những hậu quả có ÿ nghĩa với hành vi phạm tội cua họ, nhăm thúc day sự bảo vệ lâu dai cua công ching.” Hộp 1: “Tuyên bố Nguyên tắc” của YCJA: (c) trong giới hạn của trách nhiệm giải trình công bằng và tương xứng, các biện pháp được thực hiện đối với những NCTN phạm tội phải: (i) củng cố sự tôn trọng các giá trị xã hội, (ii) khuyến khích việc sửa chữa những tốn hai đã gây ra cho nạn nhân va cộng đồng, (iii) có ý nghĩa đối với cá nhân thanh niên theo nhu cầu và mức độ phát triển của họ, khi thích hợp, có sự tham gia của cha mẹ, đại gia đình, cộng đồng và xã hội hoặc các cơ quan khác trong việc phục hồi và tái hòa nhập của thanh niên, và (iv) tôn trọng sự khác biệt về giới, dân tộc, văn hóa và ngôn ngữ và đáp ứng nhu cầu của thanh niên thô dân và thanh niên có yêu câu đặc biệt.
Nguôn: Diéu 3(c) - Youth Criminal Justice Act 2002 Đây cũng được coi là chất xúc tac cho việc thiết chế cộng đồng được áp dung rộng rãi trong xử lý NCTNVPPL ở Canada. Nghiên cứu đi vào giới thiệu và phân tích một số mô hình tiêu biéu của thiết chế dựa trên cộng đồng trong xử lý NCTNVPPL ở Canada. Các mô hình cụ thể tại Canada Chương trình Can thiệp và Chuyển hướng NCTN Wabano Way!8 Vào năm 2007, Trung tâm Y tế Thổ dân Wabano nhận được tai trợ cho chương trình Wabano Way và tiến hành cung cấp các dich vụ xã hội hỗ trợ khác cho thé dân ở khu vực Ottawa. Thổ dân là đối tượng trong chương trình này là những NCTN trong độ tuôi từ 12 đến 17 tudi có liên quan hoặc có nguy cơ thực hiện thành vi VPPL ở phạm vi băng đảng.