Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cở sở lý luận của hoạt động nhƣợng quyền thƣơng mại trong ngành đồ ăn thức uống. Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn. Chương 3: Thực trạng vấn đề nhƣợng quyền trong ngành đồ ăn, thức uống tại Việt Nam và các trƣờng hợp điển hình Chương 4: Cơ hội, thách thức và giải pháp cho ngành đồ ăn, thức uống tại Việt Nam 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu liên quan đến phát triển nhƣợng quyền trong ngành đồ ăn thức uống trên thế giới Ra đời vào giữa thế kỷ XIX tại Mỹ, nhƣợng quyền thƣơng mại đã nhanh chóng phát triển, mở rộng và chứng minh tính hiệu quả của nó trong kinh doanh. Nó cho phép nhà đầu tƣ đạt kết quả cao hơn trong việc sử dụng vốn, phát triển thị trƣờng, mở rộng thị phần và kiểm soát hệ thống địa lý.
Theo báo cáo thƣờng niên của Hiệp hội franchise Quốc tế (International Franchise Association) tại San Diego vào tháng 2/2000 đăng trên tạp chí USA Today thì ngành kinh doanh franchise phổ biến nhất là ngành nhà hàng thức ăn nhanh (fast food). Do đó cũng không có gì ngạc nhiên khi nói về franchise ngƣời ta hay nghĩ tới các cửa hàng kinh doanh đồ ăn thức uống và lấy ví dụ điển hình từ ngành này. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay hầu nhƣ ngành nghề nào cũng có thể nhân rộng mô hình qua phƣơng thức bán franchise. Trong cuốn “Nhƣợng quyền thƣơng mại và cấp li-xăng” của J.sherman (2009) đã tổng kết đầy đủ và chi tiết về hoạt động nhƣợng quyền tại Mỹ, một trong những nƣớc phát triển hình thức này sớm nhất, mạnh mẽ nhất và quy mô nhất.
Đó là cẩm nang hƣớng dẫn xuyên suốt quá trình nhƣợng quyền, cả về mặt chiến lƣợc, pháp lý và tài chính. Các chiến lƣợc và cách thức cho thấy sự kết hợp ý tƣởng, tầm nhìn và sự tập trung nguồn lực có thể mang lại kết quả tuyệt vời cho doanh nghiệp. Nó mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp và là sự lựa chọn chiến lƣợc mới cho những công ty muốn duy trì, tốc độ tăng trƣởng ổn định, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế đầy biến động hiện nay.2 Các nghiên cứu liên quan đến hoạt động nhƣợng quyền trong ngành đồ ăn, thức uống tại Việt Nam Ở Việt Nam, thị trƣờng lý tƣởng của hoạt động bán lẻ, điều kiện đã chín muồi để các thƣơng hiệu áp dụng phƣơng thức kinh doanh nhƣợng quyền. Đối với các doanh nghiệp có tham vọng vƣợt ra khỏi phạm vi địa phƣơng, vùng, miền, để tấn công trực tiếp thị trƣờng ở quy mô quốc gia, thậm chí khu vực hay thế giới, thì đây lại càng là một lựa chọn phù hợp, khôn ngoan và chắc chắn.
5 z Trong tài liệu trích từ cuốn "Franchise - Bí quyết thành công" của tiến sĩ Lý Quí Trung (2005) ông có nhấn mạnh: Đối với Việt Nam, thông qua hình thức franchise bí quyết kinh doanh của những doanh nghiệp thành công sẽ đƣợc chuyển giao và nhân rộng cho nhiều doanh nghiệp khác và nhƣ thế sẽ hạn chế nhiều thiệt hại, rủi ro cho nền kinh tế nói chung. Trong dự thảo Luật Thƣơng mại do Bộ Thƣơng mại soạn thảo (2005) đã đƣa quy định về thƣơng hiệu hay hoạt động nhƣợng quyền kinh doanh vào và đang lấy ý kiến rộng rãi từ nhiều giới. Chủ đề này cũng đã đƣợc đƣa chính thức vào phiên họp chuyên trách của Quốc hội ngày 21/2/05 để tìm ra phƣơng hƣớng xây dựng dự án Luật Thƣơng mại (sửa đổi). Tuy nhiên, theo ý kiến của Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội thì Luật Thƣơng mại không nên quy định về thƣơng hiệu để tránh chồng chéo và cũng trùng khớp với pháp luật về thƣơng mại của nhiều nƣớc trên thế giới.
Việc mua bán thƣơng hiệu tức là mua bán uy tín của một nhãn hiệu. Theo ghi nhận từ công ty nghiên cứu thị trƣờng bất động sản CBRE Việt Nam, từ năm 2012 đến nay các chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh liên tục mở rộng cửa hàng thông qua hình thức nhƣợng quyền thƣơng hiệu. Mật độ bao phủ của các cửa hàng kinh doanh nhƣợng quyền fast food ở Việt Nam ngày càng tăng nhanh. Trong cuốn sách “Mua Franchise Thủ thuật và Cạm bẫy ” của tác giả Mary E.
Tomzack (2008) có nghiên cứu và giới thiệu nhiều vấn đề hữu ích cần thiết cho các nhà kinh doanh nhƣ: Phân tích những thủ thuật và cạm bẫy; Những cơ hội nhƣợng quyền nóng nhất; Giá trị của việc liên kết các thƣơng hiệu; Lựa chọn thƣơng hiệu nhƣợng quyền phù hợp với khả năng tài chính và hoàn cảnh của bạn; Cách huy động nguồn tài chính cho một thƣơng vụ nhƣợng quyền; Định hƣớng của bạn nhƣ thế nào trong mê cung tài chính; Để có đƣợc lợi nhuận trong thời gian ngắn nhất? Mấu chốt của một hợp đồng nhƣợng quyền kinh doanh; Thủ thuật phòng tránh những đổ vỡ ở phút cuối cùng; Tại sao tình hình tài chính của bên nhƣợng quyền lại ảnh hƣởng đến công việc kinh doanh của bạn; Làm thế nào để xây dựng nên đế chế kinh doanh của bạn thông qua kinh doanh nhƣợng quyền. Tác giả Nguyễn Khánh Trung (2008) có viết trên tạp chí khoa học của Trƣờng Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề nhƣợng quyền trong lĩnh vực đồ ăn thức uống ở Việt Nam. Tác giả phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của các cửa hàng nhƣợng quyền thƣơng mại chịu ảnh hƣởng bởi rất nhiều nhân tố: chuyển giao, tiếp nhận, yếu tố 6 z quan hệ và yếu tố môi trƣờng, có thể tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh của các cửa hàng đồ ăn thức uống ở Việt Nam.3 Khoảng trống nghiên cứu Ngành đồ ăn thức uống là một ngành hàng cơ bản, gắn liền với đời sống hằng ngày của con ngƣời. Hành vi ngƣời tiêu dùng đối với sản phẩm nƣớc thức ăn nhanh hay giải khát thu hút sự quan tâm không chỉ của các nhà nghiên cứu mà còn sự quan tâm của doanh nghiệp sản xuất và cơ quan quản lý Nhà nƣớc các cấp.
Trên thực tế, việc nắm bắt và hiểu rõ hành vi ngƣời tiêu dùng là hết sức cần thiết đối với các doanh nghiệp để phân bổ nguồn lực hợp lý và tăng doanh thu và thị phần, đặc biệt là trong hoàn cảnh cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp trong ngành đồ ăn thức uống hiện nay ngày càng gia tăng. Trong luận văn, tác giả đã hoàn thành cơ bản việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu đặt ra lúc đầu và tổng quan về hoạt động nhƣợng quyền thƣơng mại trong ngành đồ ăn thức uống trong giai đoạn 2000-2015 tại Việt Nam mà điển hình là sự xuất hiện của McDonal’s mới đây. Kết quả nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng, đặc điểm và hạn chế tồn tại trong hoạt động nhƣợng quyền thƣơng mại trong ngành đồ ăn thức uống tại Việt Nam để từ đó dự báo xu hƣớng, nhu cầu và các lời giải tối ƣu cho các hoạt động nhƣợng quyền trong giai đoạn tiếp theo và các giải pháp để hoạt động nhƣợng quyền thƣơng mại phát triển tốt hơn.1 Khái niệm về nhƣợng quyền thƣơng mại Thuật ngữ tiếng Anh “franchising” đƣợc dịch ra tiếng Việt với nhiều tên gọi khác nhau: Chuyển nhƣợng quyền sử dụng thƣơng hiệu; cấp phép đặc quyền kinh doanh; nhƣợng quyền thƣơng mại. Tuy nhiên, theo Điều 284 Luật Thƣơng mại 2005 của Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, thuật ngữ “franchising” đƣợc hiểu là “nhƣợng quyền thƣơng mại”.
Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả thống nhất sử dụng thuật ngữ “nhƣợng quyền thƣơng mại”. Trên thế giới, hiện có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nhƣợng quyền thƣơng mại - Theo Ủy ban Thƣơng mại Liên bang Hoa Kỳ (Federal Trade Commision – FTC), 7 z Franchise là một hợp đồng hay một thỏa thuận đƣợc ký kết giữa ít nhất 2 ngƣời, trong đó: ngƣời mua franchise đƣợc quyền bán hay phân phối sản phẩm, dịch vụ theo cùng một kế hoạch hay hệ thống marketing của ngƣời chủ thƣơng hiệu. Hoạt động của ngƣời mua franchise phải triệt để tuân theo hệ thống marketing này, phải gắn liền với nhãn hiệu, thƣơng hiệu, biểu tƣợng, khẩu hiệu, quảng cáo và những biểu tƣợng thƣơng mại khác của chủ thƣơng hiệu. Ngƣời mua phải trả một khoản phí trực tiếp hay gián tiếp gọi là phí franchise.
Định nghĩa trên thể hiện nội dung các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hoạt động nhƣợng quyền thƣơng mại, trong đó, nhấn mạnh tới quyền và nghĩa vụ của bên nhận quyền. Theo Hiệp hội Nhƣợng quyền Thƣơng mại Quốc tế (International Franchise Association- IFA), “Franchising là mối quan hệ liên tục, trong đó, bên nhƣợng quyền cấp cho bên nhận quyền đƣợc kinh doanh sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp cộng với những hỗ trợ về tổ chức, đào tạo, cách thức kinh doanh, quản lý, đổi lại nhận đƣợc một khoản tiền nhất định từ bên mua”. Định nghĩa này thể hiện nét đặc thù riêng của nhƣợng quyền thƣơng mại là “mối quan hệ liên tục” khá đặc biệt giữa hai bên tham gia hoạt động nhƣợng quyền thƣơng mại và mối quan hệ này đƣợc duy trì trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của cửa hàng nhƣợng quyền. Ngoài ra, định nghĩa cũng đề cập đến những hỗ trợ của bên nhƣợng quyền đối với bên nhận quyền và phí nhƣợng quyền.
Theo Luật thƣơng mại năm 2005 (Luật số 36/2005/QH11 đã đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2006) Nhƣợng quyền thƣơng mại là hoạt động thƣơng mại, theo đó bên nhƣợng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây: - Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đƣợc tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhƣợng quyền quy định và đƣợc gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thƣơng mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, quảng cáo của bên nhƣợng quyền. 8 z - Bên nhƣợng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh. Định nghĩa về nhƣợng quyền thƣơng mại trong Luật Thƣơng mại 2005 đã nêu đƣợc những nét chính, đặc trƣng của nhƣợng quyền thƣơng mại. Tuy nhiên, định nghĩa đã bỏ qua, không đề cập tới một yếu tố chính đó là phí nhƣợng quyền.
Tóm lại, có thể có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nhƣợng quyền thƣơng mại vì các định nghĩa đều dựa trên quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau của ngƣời viết hay của các nhà làm luật tại mỗi tổ chức 1.