chương 1, điều 3, mục 10 thì “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính 9 trong nội bộ đơn vị kế toán." Từ những phân tích trên, có thể hiểu khái quát về kế toán quản trị như sau: Kế toán quản trị là khoa học thu nhận xử lý và cung cấp thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh một cách cụ thể phục vụ cho các nhà quản trị trong việc lập kế hoạch, điều hành, tổ chức thực hiện kế hoạch và quản lý kinh tế tài chính trong nội bộ doanh nghiệp. Bản chất của kế toán quản trị Từ khái niệm của kế toán quản trị đã phân tích ở trên, có thể khái quát bản chất của kế toán quản trị như sau: Thứ nhất: Kế toán quản trị không chỉ thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về nghiệp vụ kinh tế thực sự phát sinh và đã thực sự hoàn thành mà còn xử lý và cung cấp thông tin có tính chất dự báo phục vụ cho việc ra quyết định quản lý. Để có được thông tin này, kế toán quản trị phải sử dụng các phương pháp khoa học để xử lý và phân tích chung một cách linh hoạt, phù hợp với nhu cầu thông tin của nhà quản trị. Hệ thống hóa thông tin theo một trình tự dễ hiểu và giải trình quá trình phân tích theo các chỉ tiêu cụ thể, phục vụ cho công tác quản trị doanh nghiệp.
Thứ hai: Kế toán quản trị cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế tài chính trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của một doanh nghiệp. Những thông tin đó chỉ có ý nghĩa đối với những nhà điều hành, quản trị doanh nghiệp, không có ý nghĩa với các đối tượng bên ngoài. Vì vậy, kế toán quản trị là loại kế toán dành cho các nhà quản trị các cấp trong nội bộ doanh nghiệp. Thứ ba: Kế toán quản trị là một bộ phận của công tác kế toán nói chung, thực hiện chức năng quan trọng không thể thiếu đối với công tác quản lý nội bộ của doanh nghiệp.
Vai trò của kế toán quản trị với chức năng quản lý Xã hội ngày phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng được mở rộng, ngày càng đa dạng, phức tạp, thông tin ngày càng trở nên bức thiết và quan trọng. Thông tin kế toán không những cần thiết cho những người ra quyết định quản lý ở bên trong doanh nghiệp mà còn cho tất cả những người ở bên ngoài doanh 10 nghiệp như cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức, cá nhân có quan hệ kinh tế với doanh nghiệp. Do vậy, kế toán được chia thành kế toán tài chính và kế toán quản trị. Khác với các thông tin của kế toán tài chính chủ yếu phục vụ cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp.
Kế toán quản trị cung cấp thông tin nhằm thỏa mãn nhu cầu của nhà quản trị, là những người mà các quyết định và hành động của họ ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Nếu thông tin không đầy đủ, các nhà quản trị sẽ gặp khó khăn trong việc quản lý, điều hành doanh nghiệp. Nếu thông tin không chính xác, các nhà quản trị có thể đưa ra những quyết định sai lầm, ảnh hưởng đến quá trình sinh lợi của doanh nghiệp. Nếu thông tin không đáp ứng kịp thời thì các vấn đề tồn tại không được giải quyết và có thể mất cơ hội trong kinh doanh.
Kế toán quản trị thể hiện vai trò của mình trong việc cung cấp và xử lý những thông tin về chi phí cho các nhà quản trị doanh nghiệp trong việc điều hành và ra quyết định. Cụ thể, vai trò của kế toán quản trị thể hiện ở các mặt sau: Hoạch định: Với các thông tin dự toán, kế toán quản trị chi phí giúp các nhà quản trị DN thực hiện chức năng hoạt định. KTQT tiến hành cụ thể hóa các kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp thành các dự toán kinh doanh, cung cấp thông tin ước tính cho các hàng hóa, dịch vụ hoặc các đối tượng chi phí khác theo yêu cầu của nhà quản lý nhằm giúp họ ra quyết định quan trọng về sản phẩm, hàng hóa lựa chọn, cơ cấu mặt hàng hay phân bổ hợp lý các nguồn lực của doanh nghiệp. Có thể kể đến các dự toán điển hình mà kế toán quản trị cung cấp cho các nhà quản trị DN như: dự toán về tiền lương nhân viên, dự toán chi phí NVL trực tiếp, dự toán về chi phí sản xuất chung.
Tổ chức thực hiện: Với các thông tin kế toán quản trị chi phí ở dạng thông tin dự toán, thông tin thực hiện, thông tin đã phân tích.nhà quản trị dễ dàng tổ chức thực hiện việc sắp xếp, bố trí các công việc, giao quyền hạn và phân phối nguồn lực để đạt hiệu quả cao nhất. Kiểm tra, đánh giá: Cùng với thông tin về dự toán, kế toán quản trị còn cung 11 cấp thông tin thực hiện nhằm giúp các nhà quản trị doanh nghiệp kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch và so sánh việc thực hiện với mục tiêu, với các công việc khác.Các thông tin về quá khứ của kế toán quản trị không chỉ là cơ sở để lập dự toán mà còn là số liệu gốc quan trọng giúp ích cho nhà quản lý phân tích, so sánh, đánh giá nhằm kiểm soát để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp. Thông tin thực hiện kế toán quản trị cung cấp ở cả dạng thông tin tức thời và thông tin thống kê. Ngoài ra, các báo cáo định kỳ của kế toán quản trị còn giúp so sánh kết quả thực tế với mục tiêu dự kiến về chi phí, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.
Đây là cơ sở cho việc đánh giá hoạt động quản lý của từng trung tâm trách nhiệm trong doanh nghiệp. Ra quyết định: Các nhà quản trị doanh nghiệp luôn phải đối mặt với những biến động của thị trường cũng như trong nội bộ doanh nghiệp. Để đưa ra quyết định đối với sự thay đổi, nhà quản trị cần nhiều thông tin khác nhau, tuy nhiên hiện tượng “nhiễu” thông tin luôn xảy ra và nhà quản trị phải nhận diện được thông tin phù hợp với việc ra quyết định của mình. Trong các thông tin phù hợp đó, thông tin kế toán quản trị đóng vai trò nền tảng.
Với mỗi quyết định, nhà quản trị cần có thông tin kế toán quản trị ở mọi dạng khác nhau, vì thế kế toán phải phân tích thông tin theo từng yêu cầu của nhà quản trị. Có thể kể đến những ứng dụng trong phân tích thông tin của kế toán quản trị như xác định giá bán sản phẩm, xây dựng chiến lược hay đánh giá hiệu quả của các bộ phận. Như vậy, trong công tác quản lý doanh nghiệp kế toán quản trị có những vai trò sau: - Cung cấp thông tin để lập kế hoạch hoạt động. - Cung cấp thông tin để nhà quản trị thực hiện tốt chức năng tổ chức, điều hành hoạt động - Cung cấp thông tin để nhà quản trị thực hiện tốt chức năng kiểm tra và đánh giá 1.
Nội dung của kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất Xuất phát từ những đặc thù về cung cấp thông tin như đối tượng sử dụng thông tin mà KTQT bao hàm rất nhiều nội dung và nó được phản ánh một cách chi 12 tiết, tỉ mỉ cho từng vấn đề nhằm thực hiện vai trò là cơ sở để ra quyết định của nhà quản trị. Có thể tìm hiểu KTQT trên ba bình diện cơ bản sau: Xét theo chức năng của KTQT, nội dung gồm: - Lập dự toán - Thu thập thông tin về các hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm thông tin quá khứ và thông tin dự báo. Trong đó, thông tin quá khứ được thu nhận thông qua kế toán chi tiết, chi tiết hóa các chỉ tiêu KTTC theo yêu cầu quản trị. Thông tin dự báo có thể do KTQT tự xác định hoặc từ các bộ phận khác của doanh nghiệp cung cấp.
- Xử lý và phân tích thông tin: phân loại, chọn lọc thông tin. Áp dụng các phương pháp thích hợp để phân tích các thông tin quá khứ và dự báo tương lai. - Cung cấp thông tin thông qua hệ thống Báo cáo kế toán quản trị. Xét theo nội dung các thông tin do KTQT cung cấp: - KTQT các yếu tố sản xuất kinh doanh: mua sắm, sử dụng đối tượng lao động- hàng tồn kho; Tư liệu lao động- tài sản cố định; Tuyển dụng và sử dụng lao động – lao động và tiền lương… - KTQT chi phí, giá thành sản phẩm: nhận diện, phân loại chi phí, giá thành; Lập dự toán chi phí sản xuất; tập hợp, tính toán, phân bổ chi phí, giá thành; Lập báo cáo phân tích chi phí theo bộ phận, theo các tình huống quyết định… - KTQT doanh thu và kết quả kinh doanh: phân loại doanh thu, xác định giá bán, lập dự toán doanh thu; tính toán, hạch toán chi tiết doanh thu, phân bổ chi phí chung, xác định kết quả chi tiết; Lập các báo cáo phân tích kết quả chi tiết theo bộ phận, theo các tình huống ra quyết định… - KTQT về các hoạt động đầu tư tài chính.
- KTQT các hoạt động khác của doanh nghiệp. 13 Trong tất cả các nội dung trên đặc biệt là trong doanh nghiệp sản xuất thì yếu tố chi phí là yếu tố quan trọng, không thể không xét đến; do đó kế toán quản trị chi phí được coi là trọng tâm của KTQT. Chính vì vậy nội dung chính của KTQT là kế toán quản trị chi phí. Xét theo quá trình KTQT trong mối quan hệ với chức năng quản lý.
- Chính thức hoá các mục tiêu của đơn vị thành các chỉ tiêu kinh tế. - Lập dự toán chung và các dự toán chi tiết. - Thu thập, cung cấp thông tin về kết quả thực hiện các mục tiêu. Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất Xét theo chức năng của KTQT, Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cần thực hiện các nội dung sau: 1.1 Nhận diện, phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 1.1 Nhận diện và phân loại chi phí sản xuất Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác để sản xuất sản phẩm trong một thời kỳ nhất định.
Như vậy, chi phí sản xuất chính là chi phí sản phẩm, là các chi phí cần thiết để tạo ra sản phẩm.