Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU BCTC đóng vai trò quan trọng đối với các nhà đầu tư, cổ đông trong việc ra các quyết định tài chính. Đồng thời cũng giúp DN tạo lập cũng như giữ được uy tín của mình trên thị trường đâu tư đang ngày càng khó khăn và nhiều thách thức. Nghiên cứu về BCTC là một chủ đề thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu cũng như nhà chuyên môn, và nhà hoạch định chính sách. Việc đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến độ tin cậy của BCTC giúp cho việc đánh giá được thực trạng của BCTC của các công ty niêm yết là thực sự cần thiết.
Qua đó giúp cho các nhà hoạch định chính sách có điều chỉnh hợp lý. Không những các nghiên cứu trước đây trên thế giới nghiên cứu về tiêu thức đo lường chất lượng, độ tin cậy và tính kịp thời của BCTC, mà các nhà nghiên cứu trên thế giới còn quan tâm đến các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng, độ tin cậy của BCTC. Đơn cử là một số nghiên cứu: 1.1 Các nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu của Surendra S. Singhvi và Harsha B.
Desai (1971) nhằm xác định một số đặc điểm của các tập đoàn tại Hoa kỳ có tác động đến của chất lượng báo cáo tài chính doanh nghiệp. Khảo sát ở 100 công ty đã niêm yết và 55 công ty chưa niêm yết cho các năm tài chính kết thúc từ 1/4/1965-31/3/1966. Báo cáo thường niên của các tổng công ty được chọn bằng cách lấy mẫu ngẫu nhiên từ 500 Tổng công ty công nghiệp lớn nhất Hoa Kỳ nằm trong danh mục của năm trong danh mục của năm 1965. Báo cáo thường niên của các tập đoàn chưa niêm yết được lựa chọn, sử dụng quy trình lấy mẫu có hệ thống, từ các trích dẫn của 800 công ty được xuất bản trong New York times.
Trên cơ sở đó, một lá thư yêu cầu báo cáo hàng năm đã được gửi đến 100 công ty như vậy nhưng chỉ có 55 tập đoàn đã hoàn thành yêu cầu. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng chất lượng thông tin tiết lộ là một trong những biến có ảnh hưởng đến giá của chứng khoán. Với thông tin đầy đủ và chính xác có sẵn, công chúng đầu tư sẽ có nhiều thông tin hơn niềm tin vào thị trường chứng khoán và số lượng nhà đầu tư có khả năng tăng. Nghiên 5 cứu sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để xác định và đánh giá ảnh hưởng của 4 nhân tố đến chất lượng thông tin: kích thước tài sản, số lượng cổ đông, tình trạng niêm yết, tỷ suất lợi nhuận và lợi nhuận biên.
Nghiên cứu Céline Michailesco (2000) sử dụng mô hình hồi quy để đánh giá ở 100 công ty tại Pháp giai đoạn (1991-1995) và khẳng định sự tác động của các biến độc lập: cơ cấu sở hữu, đòn bẩy tài chính, niêm yết cổ phiếu trong nước và nước ngoài, lợi nhuận đến thông tin trong báo cáo của các công ty tại Pháp giai đoạn năm 1991- 1995. Maines và James M. Khẳng định độ tin cậy là một đặc tính thiết yếu để thông tin kế toán có ích cho việc ra quyết định. Độ tin cậy thể hiện mức độ mà thông tin không thiên vị, không có lỗi và trung thành một cách đại diện (FASB 1980).
Mặc dù vai trò trung tâm của độ tin cậy, nó là một cấu trúc phức tạp và khó nắm bắt của thông tin kế toán. Độ tin cậy rất khó để xác định chính xác trong các tiêu chuẩn và thực hành kế toán, và rất khó để kiểm tra trực tiếp với nghiên cứu. Mục tiêu chính của bài viết này là để hiểu rõ hơn bản chất của độ tin cậy thông tin kế toán bằng cách tổng hợp bằng chứng lưu trữ và nghiên cứu thực nghiệm trong bối cảnh khuôn khổ về tính hữu ích của thông tin kế toán. Hiểu rõ hơn về tài liệu thực nghiệm về độ tin cậy của thông tin kế toán sẽ hỗ trợ các nhà quản lý trong việc thiết lập các chuẩn mực báo cáo tài chính, người chuẩn bị và kiểm toán viên trong việc thực hiện các tiêu chuẩn và người sử dụng báo cáo tài chính trong việc đánh giá độ tin cậy của thông tin kế toán.
FASB 1980 nhấn mạnh ba đặc điểm của độ tin cậy – tính trung thực của đại diện, tính xác minh và tính trung lập. Các khung khái niệm lưu ý thêm rằng độ tin cậy là không phải một đặc tính tác cả hoặc không có gì của kế toán thông tin; đúng hơn đó là vấn đề bằng cấp. Thông tin kế toán phải có một số mức ngưỡng độ tin cậy sẽ có ích cho nhà đầu tư, tín dụng và người sử dụng BCTC. Klai và cộng sự (2011) nghiên cứu về tác động của cơ chế quản lý đến BCTC tại các công ty ở Tunisia.
Thông qua tổng hợp từ các nghiên cứ trước đây, nghiên cứu của Klai và các cộng sự (2011) đã đề xuất mô hình hồi quy để kiểm định tác động của cơ chế quản lý đến BCTC bao gồm các biến độc lập: 6 • Sự tham gia của người nước ngoài: tỷ lệ phần trăm của giám đốc và cổ đông nước ngoài, việc tách các vị trí giám đốc điều hành và chủ tịch HĐQT, và sự hiện diện của giám đốc bên ngoài. • Cổ đông lớn: mức độ sở hữu và mức độ kiểm soát trong công ty của các cổ đông lớn. • Sức mạnh gia đình trong HĐQT: tỷ lệ phần trăm của các cổ đông và nhà quản lý là người đại diện cho gia đình và cổ phần của họ. • Sức mạnh của các tổ chức đầu tư Nhà nước: tỷ lệ phần trăm của các cổ đông là người đại diện cho Nhà nước và các tô chức tài chính và cổ phần của họ.
Và các biến kiểm soát bao gồm: • Quy mô DN: là logarit tự nhiên của tổng tài sản. • Đòn bẩy tài chính của DN: được đo bằng tỷ lệ giữa tổng số nợ trên tổng tài sản. • MTB (Cơ hội tăng trưởng); được xác định bằng tỷ lệ giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu chia cho giá trị sổ sách. Chalaki và các cộng sự (2012) đã thực hiện nghiên cứu về ảnh hưởng của các thuộc tính quản trị DN lên chất lượng BCTC tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Tehran.
Nhóm tác giả đã kiểm định các giả thuyết bằng cách sử dụng mô hình hồi quy bao gồm các biến độc lập: • Kích thước HĐQT: số lượng thành viên hội đồng quản trị của công ty i trong năm t. • Mức độ độc lập của HĐQT: số lượng thành viên bên ngoài hội đồng quản trị công ty i trong năm t chia cho tổng số thành viên hội đồng quản trị của công ty i trong năm t. • Quyền sở hữu của các tổ chức: tổng số cổ phần của công ty i trong năm t thuộc về ngân hàng, bảo hiếm, tổ chức tài chính, các công ty tổ chức và tổ chức chính phủ. • Sự tập trung quyền sở hữu: Tổng tỷ lệ phần trăm của các cổ đông có tối thiểu 5 % cổ phần của công ty i trong năm t.
+ Và các biến kiểm soát bao gồm: 7 • Kích thước DN: logarit tự nhiên của công ty i trong năm t. • Tuổi của DN: khoảng cách giữa thời điểm thành lập công ty đến giai đoạn nghiên cứu. • Quy mô kiểm toán: nếu một công ty được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán của Iran, nhận kết quả là 1, nếu không là 0. Đồng thời, biến phụ thuộc là chất lượng BCTC được đo bằng sự kết hợp hai mô hình của McNichols (2002) và Collins và Kothari (1989).
Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả cho thấy không có mối quan hệ giữa các thuộc tính quản trị DN bao gồm kích thước HĐQT, mức độ độc lập của HĐQT, tập trung quyền sở hữu, quyền sở hữu của các tổ chức với biến phụ thuộc là chất lượng BCTC. Điều này có nghĩa là, chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Tehran không chịu ảnh hưởng bởi các thuộc tính quản trị DN. Nguyên nhân của kết quả trên được nhóm tác giả giải thích là do khi xem xét trên nền kinh tế các nước kém phát triển, lợi ích ích mang lại khi cải thiện quản trị DN nhỏ hơn chi phí mà DN phải bỏ ra. Đặc biệt, nghiên cứu Albert và Serban (2012) cho thấy tầm quan trọng của kiểm toán độc lập đối với độ tin cậy của thông tin BCTC.
Đây cũng là khẳng định trong nghiên cứu của Maines and Wahlen (2006), nhóm tác giả cho rằng một báo cáo kiểm toán có ý kiến chấp nhận toàn phần là điều kiện cần thiết để nhận biết thông tin kế toán tài chính đáng tin cậy hoặc được trình bày trung thực. Nhìn chung, việc nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến BCTC đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm thực hiện đặc biệt là các nhân tố bên trong công ty. Tùy thuộc vào đặc thù của từng mục tiêu nghiên cứu mà các nhân tố được cân nhắc để đưa vào mô hình nghiên cứu.1: Tổng hợp các nghiên cứu trên thế giới Tên và Mẫu Phương Tác giả Các nhân tố ảnh hưởng Nghiên Cứu Pháp Surendra S. An Empirical Mô hình Kích thước tài sản 8 Tên và Mẫu Phương Tác giả Các nhân tố ảnh hưởng Nghiên Cứu Pháp Singhvi và Analysis of the hồi quy Số lượng cổ đông, tình trạng Harsha B.
Quality of Corporate tuyến tính niêm yết Desai Financial Disclosure Tỷ suất lợi nhuận (1971) Nghiên cứu ở 100 công ty đã niêm yết và 55 công ty chưa Và lợi nhuận biên niêm yết tại Mĩ giai đoạn từ 1965-1966. The determinants of Cơ cấu sở hữu the quality of accounting Mô hình Đòn bẩy tài chính Céline information hồi quy Michailesco disclosed by French tuyến tính Niêm yết cổ phiếu trong nước và (2000) listed companies đa biến nước ngoài Nghiên cứu 100 công ty tại Pháp giai Lợi nhuận đoạn 1991-1995 Laureen A. Factors affecting the Các chuẩn mực báo cáo tài chính Maines và audit of revalued Nghiên James M.