MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu Quản trị dòng tiền là một trong những nội dung then chốt của quản trị tài chinh doanh nghiệp. Sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp dựa vào sự ổn định và bền vững của dòng tiền. Duy trì dòng tiền lành mạnh, không chỉ thể hiện hoạt động kinh doanh hiệu quả, năng lực thanh toán ngắn hạn, khả năng hoàn trả nợ vay, mà còn cho thấy lợi ích của các chủ sở hữu được đảm bảo, giá trị của doanh nghiệp được nâng cao.
Tuy nhiên, quản trị dòng tiền là một vấn đề không đơn giản đối với các nhà quản trị tài chính bởi nội dung này có liên quan chặt chẽ đến các quyết định quản trị tài chính ngắn hạn cũng như dài hạn. Trong ngắn hạn, quản trị dòng tiền đồng nghĩa với việc đảm bảo lượng tiền mặt tồn quỹ hợp lý, quản lý các khoản thu chi bằng tiền, đảm bảo khả năng thanh toán ngắn hạn bằng tiền mặt, đảm bảo cân đối giữa các dòng tiền bộ phận. Trong dài hạn, quản trị dòng tiền liên quan đến việc sắp xếp cơ cấu nguồn vốn cho các nhu cầu đầu tư và phân phối dòng tiền tự do của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị của doanh nghiệp. Xuất phát từ những lý do trên, quản trị dòng tiền của doanh nghiệp trở thành một nội dung nghiên cứu được quan tâm rộng rãi.
Các nghiên cứu không chỉ làm rõ quản trị dòng tiền về mặt lý luận mà còn đưa ra những tình huống nghiên cứu đa dạng để làm sáng tỏ nội dung này. Phần lớn các nghiên cứu trước đây làm rõ quản trị dòng tiền của một doanh nghiệp độc lập, hoặc một nhóm các doanh nghiệp độc lập trong một ngành nghề nhất định. Những nghiên cứu làm rõ quản trị dòng tiền của một doanh nghiệp thuộc một tập đoàn còn rất khiêm tốn. Tại Việt Nam nói chung và ở các công ty than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), việc quản trị dòng tiền đã và đang được các Công ty đề cập tới, tuy nhiên nhiều nội dung của quản trị dòng tiền đang được các Công ty thực hiện theo kinh nghiệm là chủ yếu như công tác lập kế hoạch dòng tiền, xác định mức ngân quỹ tối ưu,… chưa ứng dụng bất kỳ một mô hình ngân quỹ tối ưu nào, việc duy trì số dư tiền mặt tồn quỹ chủ yếu dựa trên kinh nghiệm…Tại các doanh nghiệp này còn chưa đề cao công tác dự báo dòng tiền, đang sử dụng phương luan an 2 pháp trực tiếp để dự báo dòng tiền nên gặp nhiều khó khăn và có nhiều sự sai lệch khi kế hoạch sản xuất tiêu thụ bị thay đổi.
Thêm vào đó tình hình sản xuất kinh doanh của các công ty than thuộc Tập đoàn hiện nay và trong tương lai ngày càng khó khăn do càng khai thác xuống sâu giá thành càng cao, trữ lượng than gần cạn kiệt, giá bán than bị Trung Quốc ép giá. Do đó doanh thu và lợi nhuận của các công ty than thuộc Tập đoàn có xu hướng giảm. Xét trên góc độ công ty mẹ tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu vẫn đảm bảo theo yêu cầu trong khi đó tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu của hầu hết các công ty con, đặc biệt trong những năm gần đây, tại một số công ty trong Tập đoàn tỷ lệ này đều vượt quá quy định của Nhà nước (3/1), xuất hiện tình trạng khan hiếm vốn đầu tư. Thêm vào đó các hệ số thanh toán nhanh và thanh toán tức thời thấp, nguy cơ mất khả năng thanh toán có thể dễ dàng gặp phải.
Đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt, nhiều loại dịch bệnh mới, khả năng đứt gãy tạm thời chuỗi cung ứng toàn cầu có thể xảy ra bất kỳ khi nào. Hơn nữa các công ty than thuộc TKV là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực năng lượng, là lĩnh vực vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế trong bối cảnh an ninh năng lượng toàn cầu đang gặp nhiều bất cập. Vì vậy việc quản trị dòng tiền như thế nào để các doanh nghiệp này có thể tồn tại và phát triển là vấn đề hết sức cần thiết đối với không những nhà quản trị doanh nghiệp mà nó còn có ý nghĩa mang tầm quốc gia. Do vậy để tăng cường công tác Quản trị dòng tiền tại các công ty than thuộc Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, tác giả lựa chọn đề tài“Quản trị dòng tiền của các Công ty than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước Trên thế giới có khá nhiều công trình nghiên cứu về dòng tiền và quản trị dòng tiền. Tuy nhiên xét theo vấn đề nghiên cứu, các nghiên cứu này tập trung vào một số vấn đề như: Nghiên cứu nội dung quản trị dòng tiền (đặc biệt tập trung vào các nội dung như lập kế hoạch dòng tiền, xây dựng mô hình xác định mức ngân quỹ tối ưu, mô hình dự báo dòng tiền), tác động của dòng tiền đến hoạt động của doanh nghiệp, nhân tố ảnh hưởng tới quản trị dòng tiền của doanh nghiệp. Nhóm các nghiên cứu về nội dung quản trị dòng tiền (mô hình dự báo dòng tiền, lập kế hoạch dòng tiền, xây dựng mô hình xác định mức ngân quỹ tối ưu) Các nghiên cứu về nội dung quản trị dòng tiền phải kể đến như các nghiên cứu của Rajendra (2013) [65], Krishnan & Largay (2000) [44], Bowen, Burstahler và Daley (1986) [19], Lorek và Willinger (1996) [53], Lorek và Willinger (1993) [52], Lev, Li và Sougiannis (2010) ở Hoa Kỳ [49], Khansalar (2012) [46], Arnedo & ctg (2012) [17].
Các nghiên cứu này đi sâu xây dựng mô hình dự báo dòng tiền trong tương lai theo các phương pháp trực tiếp và gián tiếp. Theo Rajendra (2013) [65], đã chỉ ra rằng mục đích của dự báo dòng tiền là tìm ra những nhu cầu về tiền mặt và đảm bảo chắc chắn rằng quỹ tiền mặt này được công ty sử dụng một cách tối đa và không phát sinh thêm khoản vay nào nữa. Bên cạnh đó thành công của dự báo dòng tiền cũng giúp giảm chi phí về vốn và làm tăng thu nhập của khoản tiền mặt dư thừa. Cũng theo Rajendra (2013) [65], dự báo dòng tiền tiến hành tốt sẽ hỗ trợ việc ra quyết định quản lý và cho phép quản lý rủi ro.
Nội dung cơ bản của quản trị rủi ro là đưa ra được dự báo về dòng tiền tương lai và quản lý chúng một cách hiệu quả. Điều này một lần nữa có ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị tài chính của công ty. Đặc biệt ông cũng chỉ ra có một vài phương pháp dự báo dòng tiền nhưng lựa chọn phương pháp nào lại phụ thuộc vào nhu cầu thực tế của từng doanh nghiệp. Tuy nhiên theo Krishnan & Largay (2000): Dự báo dòng tiền theo phương pháp gián tiếp sử dụng các thông tin về thu nhập quá khứ, dòng tiền quá khứ để dự báo dòng tiền tương lai còn dự báo dòng tiền theo phương pháp trực tiếp lại sử dụng thông tin các khoản phải thu, phải trả, thuế phải nộp, lãi nhận được để dự báo dòng tiền tương lai.
Sẽ không có vấn đề gì nếu dòng tiền thuần là bằng nhau trong cả hai phương pháp [44]. Nghiên cứu chi tiết về nội dung quản trị dòng tiền có thể kể đến nghiên cứu của Kroes and Manikas (2014) [45], nghiên cứu sử dụng phương pháp GEE để phân tích một mẫu 1233 công ty sản xuất để giải thích mối quan hệ giữa các thay đổi trong dòng tiền và thay đổi hiệu quả tài chính, đồng thời điều tra mối quan hệ giữa sự thay đổi theo quý của dòng tiền và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Tác giả đã đưa ra 4 giả thuyết nghiên cứu ảnh hưởng ngược chiều của kỳ thu tiền bình quân (DSO, chính là số ngày bình quân cần thiết để thu hồi các khoản doanh thu đã bán), kỳ luân chuyển hàng tồn kho bình quân (DIO), kỳ trả tiền bình quân DPO, chu kỳ luan an 4 chuyển đổi tiền mặt (CCC, CCC = DSO + DIO - DPO) và chu kỳ hoạt động tiền mặt (OCC, OCC = DSO + DIO) tới hiệu quả tài chính của doanh nghiệp (Tobin'Q). Kết quả nghiên cứu chỉ ra cả DSO và DIO đều ảnh hưởng tiêu cực và đáng kể lên những thay đổi của hiệu quả tài chính, nói cách khách chu kỳ hoạt động tiền mặt OCC ảnh hưởng tiêu cực và đáng kể tới hiệu quả tài chính.
Tuy nhiên DPO và CCC không ảnh hưởng tới thay đổi của hiệu quả tài chinh trong thời gian nghiên cứu. Nghiên cứu này còn đưa ra bảng tổng hợp kết quả của 12 nghiên cứu trước đó liên quan đến quản trị dòng tiền. Kết quả của các nghiên cứu thể hiện như sau: Bảng 1: Kết quả nghiên cứu của một số tác giả về quản trị dòng tiền Phƣơng Mẫu và Tác pháp TT Bài báo nguồn dữ Kết quả chính giả/năm nghiên liệu cứu Xem xét việc dùng chỉ Số liệu tài tiêu chu kỳ hoạt động Churchill How fast can chính cụ Ví dụ cụ tiền mặt (OCC) làm 1 and Mullins your company thể của thể thước đo để xác định (2001) [25] afford to grow? một số tiềm năng tăng trưởng công ty của một công ty DIO, DSO, DPO ngắn hơn có mối liên kết với Does working Số liệu tài tổng thu nhập từ hoạt capital chính của động cao hơn (Gross Tương Deloof management 1009 công operating Income). 2 quan và (2003) [27] affect ty phi tài CCC không có mối hồi quy profitability of chính lớn quan hệ đáng chú ý tới Belgian tại Bỉ tổng thu nhập từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Cash conversion Dữ liệu tài Chu kỳ chuyển đổi tiền cycle chính hàng mặt CCC có tác động management in năm cho tích cực tới vốn đầu tư Ebben and small firms: 833 nhỏ, và tiêu cực tới doanh 3 Johnson relationships các cơ sở Hồi quy thu, tỷ suất sinh lời của (2011) [28] with liquidity, bán lẻ và vốn đầu tư (ROI) và invested hãng sản khả năng cân bằng capital, and xuất của trong thanh toán của firm Mỹ doanh nghiệp. luan an 5 Sử dụng Cash-to-cash: Farris and dữ liệu tài Ví dụ cụ Chứng minh tầm quan the new supply 4 Hutchison chính cho thể (Case trọng của việc đo lường chain manage- (2002) [78] một vài examples) CCC ment metric trường hợp Số liệu tài So sánh chính năm các giá trị 1986 và CCC trung Farris and Measuring 2001 của bình năm Chu kỳ chuyển đổi tiền 5 Hutchison cash-to-cash 5884 công 1986 và mặt trung bình đã giảm (2003) [79] performance.