lời mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận chung về franchise Chƣơng 2: Kinh nghiệm áp dụng phƣơng thức franchise trên thế giới và thực tế ở Việt Nam hiện nay Chƣơng 3: Một số gợi ý về giải pháp nhằm phát triển franchise ở Việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế CHƢƠNG I - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ FRANCHISE 9 z 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ FRANCHISE 1. Khái niệm franchise và sự ra đời của franchise Thông thƣờng khi tìm hiểu một vấn đề nào đó ngƣời ta thƣờng hay đặt ra câu hỏi “nó là gì, bắt đầu từ khi nào, hay nó xuất hiện khi nào?” và franchise cũng vậy. Tuy nhiên, thực sự ít ngƣời biết câu trả lời chính xác là nó xuất hiện vào thời điểm nào cũng nhƣ có thể đƣa ra một định nghĩa đầy đủ và chính xác về nó.
Tác giả luận văn đã cố gắng tìm hiểu hình thái ban đầu của franchise là nhƣ thế nào, nó bắt nguồn từ đâu và đã tìm đƣợc một số thông tin. Từ Franchise có nguồn gốc từ tiếng Pháp cổ là “franc” (có nghĩa là tự do). Trong từ điển Webmaster năm 1913, ngƣời ta định nghĩa “Franchise là một đặc quyền được nhà sản xuất trao cho một người hoặc một nhóm người để phân phối hoặc bán sản phẩm của chủ thương hiệu- Franchise is 1. A privilege or right granted a person or a group by government, state or sovereign.
Authorization granted by a manufacture to a distributor or dealer to sell his products” [52]. Còn trong từ điển Anh-Việt của Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 1993: ” Franchise có nghĩa là nhượng quyền kinh doanh hay cho phép ai đó chính thức được bán hàng hoá hay dịch vụ của một công ty ở một khu vực nhất định.” [27] Hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của franchise, đã có nhiều khái niệm của nhiều quốc gia đƣợc nêu ra nhằm giải thích, hƣớng dẫn các doanh nghiệp thực hiện họat động kinh doanh nhƣợng quyền đạt hiệu quả. Tuy vậy, do sự khác biệt về quan điểm và môi trƣờng kinh tế, chính trị, xã hội giữa các quốc gia, nên các khái niệm này thƣờng khác nhau. Hiệp hội franchise Quốc tế (The International Franchise Association - IFA), hiệp hội lớn nhất nƣớc Mỹ và thế giới đã định nghĩa về franchise nhƣ sau: 10 z "Franchise là mối quan hệ theo hợp đồng, giữa Bên giao và Bên nhận quyền, theo đó Bên giao đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của Bên nhận trên các khía cạnh nhƣ: bí quyết kinh doanh (know-how), đào tạo nhân viên; Bên nhận hoạt động dƣới nhãn hiệu hàng hóa, phƣơng thức, phƣơng pháp kinh doanh do Bên giao sở hữu hoặc kiểm soát; và Bên nhận đang, hoặc sẽ tiến hành đầu tƣ đáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình" [26].
Theo định nghĩa này, vai trò của Bên nhận quyền kinh doanh trong việc đầu tƣ vốn và điều hành doanh nghiệp đƣợc đặc biệt nhấn mạnh hơn so với trách nhiệm của bên nhƣợng quyền. Hội đồng Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (FTC) thì định nghĩa nhƣ sau: “Franchise là một hợp đồng hay thỏa thuận ít nhất là hai ngƣời hay hai đối tác, trong đó ngƣời mua franchise đƣợc cấp quyền bán hay phân phối sản phẩm, dịch vụ theo cùng một kế hoạch, chƣơng trình của chủ thƣơng hiệu. Hoạt động kinh doanh của ngƣời mua franchise phải triệt để tuân theo kế hoạch tiếp thị, gắn liền mới mục tiêu của chủ thƣơng hiệu. Bên nhận quyền phải trả cho chủ thƣơng hiệu một khoản phí trực tiếp hay gián tiếp gọi là phí franchise” [38].
Hợp đồng franchise này có thời hạn xác định, thông thƣờng từ 5-10 năm. Định nghĩa này đƣợc xem là khá chuẩn và phù hợp với bản chất của từ franchise và phƣơng thức kinh doanh này. Cộng đồng chung Châu Âu EC (nay là liên minh Châu Âu EU) định nghĩa quyền thƣơng mại là một "tập hợp những quyền sở hữu công nghiệp và sở hữu trí tuệ liên quan tới nhãn hiệu hàng hóa, tên thƣơng mại, biển hiệu cửa hàng, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, bản quyền tác giả, bí quyết, hoặc sáng chế 11 z sẽ đƣợc khai thác để bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ tới ngƣời sử dụng cuối cùng" [38]. Có thể thấy, EU định nghĩa franchise theo hƣớng nhấn mạnh tới quyền của Bên nhận, khi sử dụng một tập hợp quyền sở hữu trí tuệ.
Mặc dù, ghi nhận vai trò của thƣơng hiệu và hệ thống, bí quyết kinh doanh của Bên nhƣợng quyền, định nghĩa này không đề cập tới những đặc điểm khác của việc nhƣợng quyền kinh doanh. Trong khi đó, Luật Mêhicô đề cập tới lợi ích của franchise về mặt hỗ trợ kỹ thuật (technical assistance) và nhấn mạnh tới việc chuyển giao "kiến thức kỹ thuật" (technical knowledge) để bán sản phẩm, hoặc dịch vụ đồng bộ và có chất lƣợng. Luật sở hữu công nghiệp của Mêhicô có hiệu lực từ 6/1991 quy định: "Franchise tồn tại khi với một li-xăng cấp quyền sử dụng một thƣơng hiệu nhất định, có sự chuyển giao kiến thức công nghệ hoặc hỗ trợ kỹ thuật để một ngƣời sản xuất, chế tạo, hoặc bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ đồng bộ với các phƣơng pháp vận hành, các hoạt động thƣơng mại, hoặc hành chính đã đƣợc chủ thƣơng hiệu thiết lập, với chất lƣợng, danh tiếng, hình ảnh của sản phẩm, hoặc dịch vụ đã tạo dựng đƣợc dƣới thƣơng hiệu đó. Định nghĩa này phản ánh một phần quan điểm của Mêhicô là một nƣớc đang phát triển có nhu cầu rất lớn trong việc nhập khẩu công nghệ và bí quyết kinh doanh từ nƣớc ngoài.
Không đi vào cụ thể những khía cạnh của franchise, Tổ chức sở hữu trí tuệ quốc tế (WIPO) lại đƣa ra khái niệm đƣợc đánh giá là tƣơng đối chính xác nhƣ sau: Franchise là khi bên nhƣợng quyền muốn phát triển hệ thống kinh doanh một mặt hàng/dịch vụ cụ thể của mình bằng cách cho phép một chủ thể khác (bên nhận quyền) đƣợc sử dụng hệ thống kinh doanh của bên nhƣợng 12 z quyền đúng quy định, chuẩn mực theo thoả thuận, chịu giám sát cùng với sự hỗ trợ của bên nhƣợng. Mối quan hệ này diễn tiến liên tục suốt hoạt động kinh doanh của bên nhận quyền. Ngoài ra, trong Báo cáo đầu tư thế giới (WIR) năm 2008, franchise còn đƣợc coi là một hoạt động đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) mà chủ đầu tƣ không nắm vốn. Tất cả các định nghĩa về franchise trên đây đều dựa trên quan điểm cụ thể của các nhà làm luật tại mỗi nƣớc.
Tuy nhiên, có thể thấy rằng các điểm chung trong tất cả những định nghĩa này là việc một Bên độc lập (Bên nhận) phân phối (marketing) sản phẩm, hoặc dịch vụ dƣới nhãn hiệu hàng hóa, các đối tƣợng khác của các quyền sở hữu trí tuệ, và hệ thống kinh doanh đồng bộ do một Bên khác (Bên giao) phát triển và sở hữu; để đƣợc phép làm việc này, Bên nhận phải trả những phí và chấp nhận một số hạn chế do Bên giao giám sát chặt chẽ. Ở Việt Nam, Luật thương mại của Quốc hội nước Việt Nam số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005 định nghĩa: “Nhƣợng quyền thƣơng mại là hoạt động thƣơng mại theo đó bên nhƣợng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện dƣới đây: 1. Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ đƣợc tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhƣợng quyền quy định và đƣợc gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thƣơng mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tƣợng kinh doanh, quảng cáo của bên nhƣợng quyền; 2. Bên nhƣợng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh.” 13 z Tóm lại, dù theo định nghĩa của thế giới hay Việt Nam thì về tổng thể có thể hiểu định nghĩa về franchise nhƣ sau: Franchise là phƣơng thức kinh doanh mà theo đó, Bên nhƣợng quyền (Franchisor, doanh nghiệp sản xuất hoặc mua bán hoặc dịch vụ) cho phép Bên nhận quyền (Franchisee, doanh nghiệp kinh doanh độc lập) sử dụng nhãn hiệu hàng hóa, khẩu hiệu kinh doanh và bí quyết kinh doanh hoặc quy trình vận hành hệ thống kinh doanh.
Ngƣợc lại, Bên nhận quyền phải trả phí ban đầu, gồm: phí nhƣợng quyền (Franchise fee), phí lãnh thổ (territorial fee) trong trƣờng hợp ký hợp đồng qua Bên nhƣợng quyền của khu vực) và phí bản quyền (royalty fee) khi kinh doanh hoặc cũng có một số hệ thống nhƣợng quyền thu phí cố định trả một lần trong thời gian nhƣợng quyền. Bên nhƣợng quyền sẽ đem lại cho bên nhận quyền sử dụng nhãn hiệu. Tuy nhiên, bên nhận quyền vẫn phải chịu sự kiểm soát trong quá trình kinh doanh dƣới nhãn hiệu đã đăng ký. Ở trên, luận văn đã tổng hợp rất nhiều khái niệm khác nhau về franchise để chứng minh tính thời sự cũng nhƣ vai trò quan trọng của franchise trong môi trƣờng kinh doanh hiện đại ngày nay.
Ngay cả khi nói về lịch sử phát triển franchise cũng có nhiều ý kiến trái ngƣợc nhau về nơi ra đời của nó. Tuy nhiên, nguồn gốc của franchise theo nhiều tài liệu nghiên cứu đƣợc cho là bắt đầu từ Trung Quốc nhƣng thực sự đã có từ thời Trung cổ (tức là vào khoảng những năm 400 trƣớc công nguyên). Vào thời đó, ngƣời có quyền lực tối cao ở địa phƣơng hay chúa đất đƣợc trao quyền nắm giữ, quản lý các khu chợ hay hội chợ, điều hành hệ thống phà tại địa phƣơng hay săn bắn trên lãnh thổ của mình, đƣa ra các mức thuế. Nhờ hình thức này, nhà vua cấp quyền cho mọi hình thức hoạt động kinh doanh nhƣ xây dựng đƣờng xá, sản xuất rƣợu, bia.Thực chất là nhà vua trao quyền cho một ngƣời nào đó độc 14 z quyền một loại hình hoạt động kinh doanh nhất định nào đó.
Những ngƣời đƣợc cấp quyền đƣợc phép giữ lại một tỷ lệ trên số tiền mà họ thu đƣợc, và số còn lại thì giao lại cho nhà vua. Nhƣ vậy, mối quan hệ rất sớm, sơ khai đầu tiên về franchise đã đƣợc ghi nhận trong lịch sử mà sau này nó đƣợc mở rộng, phát triển thành kinh doanh nhƣợng quyền thƣơng mại. Trải qua nhiều thế kỷ, franchise đã phát triển giống nhƣ một hệ thống kinh tế quốc gia ở các nƣớc phát triển. Vào đầu thế kỷ 19 ở Anh cũng đã thấy xuất hiện phƣơng thức franchise khi chủ các quán rƣợu do những khó khăn về tài chính đã phải nhờ đến sự trợ giúp của các nhà máy sản xuất rƣợu.
Và để đổi lại, họ đƣợc yêu cầu phải mua tất cả số rƣợu mà nhà máy đó sản xuất ra.