CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu liên quan đến phát triển nhượng quyền trong ngành đồ ăn thức uống trên thế giới Ra đời vào giữa thế kỷ XIX tại Mỹ, nhượng quyền thương mại đã nhanh chóng phát triển, mở rộng và chứng minh tính hiệu quả của nó trong kinh doanh. Nó cho phép nhà đầu tư đạt kết quả cao hơn trong việc sử dụng vốn, phát triển thị trường, mở rộng thị phần và kiểm soát hệ thống địa lý. Theo báo cáo thường niên của Hiệp hội franchise Quốc tế (International Franchise Association) tại San Diego vào tháng 2/2000 đăng trên tap chi USA Today thì ngành kinh doanh franchise phô biến nhất là ngành nhà hàng thức ăn nhanh (fast food). Do đó cũng không có gì ngạc nhiên khi nói về franchise người ta hay nghĩ tới các cửa hàng kinh doanh đồ ăn thức uống và lấy vi dụ điển hình từ ngành này.
Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay hầu như ngành nghề nào cũng có thể nhân rộng mô hình qua phương thức bán franchise. Trong cuốn “Nhượng quyền thương mại va cấp li-xăng” của J.sherman (2009) đã tong kết đầy đủ và chỉ tiết về hoạt động nhượng quyền tại Mỹ, một trong những nước phát triển hình thức này sớm nhất, mạnh mẽ nhất và quy mô nhất. Do là cam nang hướng dẫn xuyên suốt quá trình nhượng quyền, cả về mặt chiến lược, pháp lý và tài chính. Các chiến lược và cách thức cho thay sự kết hợp ý tưởng, tầm nhìn và sự tập trung nguồn lực có thé mang lại kết quả tuyệt vời cho doanh nghiệp.
Nó mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp và là sự lựa chọn chiến lược mới cho những công ty muốn duy trì, tốc độ tăng trưởng ồn định, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế đầy biến động hiện nay.2 Các nghiên cứu liên quan đến hoạt động nhượng quyền trong ngành đồ ăn, thức uống tại Việt Nam Ở Việt Nam, thị trường lý tưởng của hoạt động bán lẻ, điều kiện đã chín muỗi dé các thương hiệu áp dụng phương thức kinh doanh nhượng quyền. Đối với các doanh nghiệp có tham vọng vượt ra khỏi phạm vi địa phương, vùng, miền, dé tấn công trực tiếp thị trường ở quy mô quốc gia, thậm chí khu vực hay thé giới, thì đây lại càng là một lựa chọn phù hợp, khôn ngoan và chắc chắn. Trong tài liệu trích từ cuốn "Franchise - Bí quyết thành công" của tiến sĩ Ly Qui Trung (2005) ông có nhấn mạnh: Đối với Việt Nam, thông qua hình thức franchise bí quyết kinh doanh của những doanh nghiệp thành công sẽ được chuyền giao và nhân rộng cho nhiều doanh nghiệp khác và như thế sẽ hạn chế nhiều thiệt hại, rủi ro cho nền kinh tế nói chung. Trong dự thảo Luật Thương mại do Bộ Thương mại soạn thảo (2005) đã đưa quy định về thương hiệu hay hoạt động nhượng quyền kinh doanh vào và đang lấy ý kiến rộng rãi từ nhiều giới.
Chủ đề này cũng đã được đưa chính thức vào phiên họp chuyên trách của Quốc hội ngày 21/2/05 để tìm ra phương hướng xây dựng dự án Luật Thương mại (sửa đổi). Tuy nhiên, theo ý kiến của Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội thì Luật Thương mại không nên quy định về thương hiệu đề tránh chồng chéo và cũng trùng khớp với pháp luật về thương mại của nhiều nước trên thế giới. Việc mua ban thương hiệu tức là mua bán uy tín của một nhãn hiệu. Theo ghi nhận từ công ty nghiên cứu thị trường bất động sản CBRE Việt Nam, từ năm 2012 đến nay các chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh liên tục mở rộng cửa hàng thông qua hình thức nhượng quyền thương hiệu.
Mật độ bao phủ của các cửa hàng kinh doanh nhượng quyền fast food ở Việt Nam ngày càng tăng nhanh. Trong cuốn sách “Mua Franchise Thủ thuật và Cạm bẫy ” của tác giả Mary E. Tomzack (2008) có nghiên cứu và giới thiệu nhiều vấn đề hữu ích cần thiết cho các nhà kinh doanh như: Phân tích những thủ thuật và cạm bẫy; Những cơ hội nhượng quyền nóng nhất; Giá trị của việc liên kết các thương hiệu; Lựa chọn thương hiệu nhượng quyền phù hợp với khả năng tài chính và hoàn cảnh của bạn; Cách huy động nguồn tài chính cho một thương vụ nhượng quyền; Định hướng của bạn như thé nào trong mê cung tài chính; Để có được lợi nhuận trong thời gian ngắn nhất? Mau chốt của một hợp đồng nhượng quyền kinh doanh; Thủ thuật phòng tránh những đồ vỡ ở phút cuối cùng: Tại sao tình hình tài chính của bên nhượng quyền lại ảnh hưởng đến công việc kinh doanh của bạn; Làm thế nào dé xây dựng nên dé chế kinh doanh của bạn thông qua kinh doanh nhượng quyên. Tác giả Nguyễn Khánh Trung (2008) có viết trên tạp chí khoa học của Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề nhượng quyền trong lĩnh vực đồ ăn thức uống ở Việt Nam.
Tác giả phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của các cửa hàng nhượng quyền thương mại chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều nhân tố: chuyên giao, tiếp nhận, yếu tố quan hệ và yếu tố môi trường, có thê tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh của các cửa hàng đô ăn thức uông ở Việt Nam.3 Khoảng trống nghiên cứu Ngành đồ ăn thức uống là một ngành hàng cơ bản, gắn liền với đời sống hằng ngày của con người. Hành vi người tiêu dùng đối với sản phẩm nước thức ăn nhanh hay giải khát thu hút sự quan tâm không chỉ của các nhà nghiên cứu mà còn sự quan tâm của doanh nghiệp sản xuất và cơ quan quản lý Nhà nước các cấp. Trên thực tế, việc nắm bắt và hiểu rõ hành vi người tiêu dùng là hết sức cần thiết đối với các doanh nghiệp để phân bổ nguồn lực hợp lý và tăng doanh thu và thị phần, đặc biệt là trong hoàn cảnh cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp trong ngành đồ ăn thức uống hiện nay ngày càng gia tăng. Trong luận văn, tác gia đã hoàn thành cơ bản việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu đặt ra lúc đầu và tổng quan về hoạt động nhượng quyền thương mại trong ngành đồ ăn thức uống trong giai đoạn 2000-2015 tại Việt Nam mà điển hình là sự xuất hiện của McDonal’s mới đây.
Kết quả nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng, đặc điểm và hạn chế tồn tại trong hoạt động nhượng quyền thương mại trong ngành đồ ăn thức uống tại Việt Nam dé từ đó dự báo xu hướng, nhu cầu và các lời giải tối ưu cho các hoạt động nhượng quyền trong giai đoạn tiếp theo và các giải pháp để hoạt động nhượng quyền thương mại phát triển tốt hơn.1 Khái niệm về nhượng quyền thương mại Thuật ngữ tiếng Anh “franchising” được dịch ra tiếng Việt với nhiều tên gọi khác nhau: Chuyên nhượng quyền sử dụng thương hiệu; cấp phép đặc quyền kinh doanh; nhượng quyền thương mại. Tuy nhiên, theo Điều 284 Luật Thương mại 2005 của Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, thuật ngữ “franchising” được hiểu là “nhượng quyền thương mại”. Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả thống nhất sử dụng thuật ngữ “nhượng quyền thương mại”. Trên thế giới, hiện có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nhượng quyền thương mại - Theo Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Ky (Federal Trade Commision — FTC), 7 Franchise là một hợp đồng hay một thỏa thuận được ký kết giữa ít nhất 2 người, trong đó: người mua franchise được quyền bán hay phân phối sản phâm, dịch vụ theo cùng một kế hoạch hay hệ thống marketing của người chủ thương hiệu.
Hoạt động của người mua franchise phải triệt để tuân theo hệ thống marketing này, phải gắn liền với nhãn hiệu, thương hiệu, biéu tượng, khẩu hiệu, quảng cáo và những biểu tượng thương mại khác của chủ thương hiệu. Người mua phải trả một khoản phí trực tiếp hay gián tiếp gọi là phí franchise. Định nghĩa trên thê hiện nội dung các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hoạt động nhượng quyền thương mại, trong đó, nhân mạnh tới quyền và nghĩa vụ của bên nhận quyền. Theo Hiệp hội Nhượng quyền Thương mại Quốc tế (International Franchise Association- IFA), “Franchising là mối quan hệ liên tục, trong đó, bên nhượng quyền cấp cho bên nhận quyền được kinh doanh sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp cộng với những hỗ trợ về tổ chức, đào tạo, cách thức kinh doanh, quản lý, đổi lại nhận được một khoản tiền nhất định từ bên mua”.
Định nghĩa này thể hiện nét đặc thù riêng của nhượng quyền thương mại là “mối quan hệ liên tục” khá đặc biệt giữa hai bên tham gia hoạt động nhượng quyên thương mại và mối quan hệ này được duy trì trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của cửa hàng nhượng quyền. Ngoài ra, định nghĩa cũng đề cập đến những hỗ trợ của bên nhượng quyền đôi với bên nhận quyên và phí nhượng quyên. Theo Luật thương mại năm 2005 (Luật số 36/2005/QH11 đã được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2006) Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điêu kiện sau đây: - Việc mua ban hang hóa, cung ứng dịch vụ được tiễn hành theo cách thức tô chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền. - Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điêu hành công việc kinh doanh.
Định nghĩa về nhượng quyền thương mại trong Luật Thương mại 2005 đã nêu được những nét chính, đặc trưng của nhượng quyền thương mại. Tuy nhiên, định nghĩa đã bỏ qua, không đề cập tới một yếu tô chính đó là phí nhượng quyền. Tom lại, có thé có rat nhiêu định nghĩa khác nhau về nhượng quyên thương mai vi các định nghĩa đêu dựa trên quan điêm và cách nhìn nhận khác nhau của người viét hay của các nhà làm luật tại moi tô chức 1.2 Lịch sử phát triển của nhượng quyền thương mại Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, hình thức sơ khai của lối kinh doanh nhượng quyền đã xuất hiện vào khoảng thé kỷ 17-18 tại Châu Au. Tuy nhiên, hoạt động nhượng quyền kinh doanh (hay nhượng quyền thương mai) được chính thức thừa nhận khởi nguồn, phát triển là tại Hoa Kỳ vào giữa thế kỷ 19, khi mà Nhà máy Singer (sản xuất máy khâu) ký kết hợp đồng nhượng quyền kinh doanh đầu tiên cho đối tác của mình.