Chương 1: Cơ sở lý luận về chiến lược và xây dựng chiến lược kinh doanh. ¾ Chương 2: Phân tích môi trường kinh doanh của của Công ty TNHH MTV Dịch vụ Cơ khí Hàng hải (PTSC M&C) ¾ Chương 3: Hoạch định chiến lược kinh doanh cho Công ty TNHH MTV Dịch vụ Cơ khí Hàng hải (PTSC M&C) giai đoạn 2013 - 2018. Mặc dù tác giả đã có nhiều nỗ lực cố gắng để thực hiện hoàn thành đề tài này nhưng do phải thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn, đặc biệt là số liệu nội bộ không được công bố công khai nên luận văn còn một số khiếm khuyết mong được thầy hướng dẫn, các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn góp ý để luận văn này được phát triển hoàn thiện hơn.1 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3 Đề tài giúp cho Công ty TNHH MTV Dịch vụ Cơ khí Hàng hải (PTSC M&C) có cái nhìn rõ hơn về những điểm mạnh, điểm yếu trong nội tại Doanh nghiệp. Đồng thời, phân tích môi trường kinh doanh bên ngoài để tìm ra các cơ hội và thách thức của Doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó hoạch định chiến lược kinh doanh cụ thể cho Công ty TNHH MTV Dịch vụ Cơ khí Hàng hải (PTSC M&C) trong giai đoạn 2013- 2018. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC VÀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1.1 Khái niệm chiến lược và quản trị chiến lược 1.1 Khái niệm chiến lược Thuật ngữ “chiến lược” có nguồn gốc từ nghệ thuật quân sự thời xa xưa, với ý nghĩa là phương pháp, cách thức điều khiển và chỉ huy các trận đánh. Theo thời gian, nhờ tính ưu việt của nó, chiến lược đã được phát triển qua các lĩnh vực khoa học khác như: chính trị, văn hóa, kinh tế xã hội, công nghệ, môi trường… cạnh tranh trên thương trường ngày càng khốc liệt và thương trường được ví dụ như chiến trường. Vì vậy, để tồn tại và phát triển, chiến lược kinh doanh ngày càng được các doanh nghiệp chú trọng.
Trong Từ điển tiếng Việt, học giả Đào Duy Anh đã viết: “chiến lược là các kế hoạch đặt ra để giành thắng lợi trên một hay nhiều mặt trận”. Như vậy, trong lĩnh vực quân sự, thuật ngữ “chiến lược” được coi như nghệ thuật chỉ huy nhằm giành thắng lợi trong một cuộc chiến tranh. Từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX, thuật ngữ “chiến lược” được áp dụng vào lĩnh vực kinh doanh và từ đó ra đời thuật ngữ “Chiến lược kinh doanh”. Quan niệm về chiến lược kinh doanh phát triển dần theo thời gian và người ta đã tiếp cận nó theo nhiều cách khác nhau.
Theo truyền thống các doanh nghiệp được hình thành với một hoặc nhiều sản phẩm. Trải qua quá trình kinh doanh, doanh nghiệp ấy đối phó với đối thủ cạnh tranh, đối phó với yêu cầu của khách hàng, đối phó với những thay đổi trong môi trường kinh doanh bằng cách điều chỉnh sản phẩm, dịch vụ và chính sách và họ xoay sở để tồn tại trên thị trường. Từ đó thuật ngữ “chiến lược kinh doanh” được định nghĩa theo quan điểm truyền thống là việc xác định những mục tiêu cơ bản của một tổ chức để từ đó đưa ra các chương trình hành động cụ thể cùng với việc sử dụng các nguồn lực một cách hợp lý để đạt được các mục tiêu đã đề ra. Ngày nay, các tổ chức kinh doanh cũng áp dụng khái niệm chiến lược tương tự như trong quân đội.
Chiến lược là kế hoạch kiểm soát và sử dụng nguồn lực của 5 tổ chức như con người, tài sản, tài chính… nhằm mục đích nâng cao và bảo đảm những quyền lợi thiết yếu của mình. Kenneth Andrews là người đầu tiên đưa ra các ý tưởng nổi bật này trong cuốn sách kinh điển “The Concept of Corporate Strategy”. Theo ông, chiến lược là những gì mà một tổ chức phải làm dựa trên những điểm mạnh và yếu của mình trong bối cảnh có những cơ hội và cả những mối đe dọa. Các học giả kinh tế trên thế giới đã đưa ra một số định nghĩa tiêu biểu về chiến lược như sau: − Theo Michael E.
Porter: “Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ”. Ohmae: “Mục đích của chiến lược kinh doanh là mang lại điều kiện thuận lợi nhất cho một phía, đánh giá đúng thời điểm tấn công hay rút lui, xác định ranh giới của sự thỏa hiệp”. − Alfred Chandler: “Chiến lược kinh doanh là xác định các mục tiêu cơ bản và dài hạn của doanh nghiệp, lựa chọn các chính sách, chương trình hành động nhằm phân bổ các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đó”.Quinn: “Chiến lược kinh doanh là một dạng thức hay là một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và hành động thành một tổng thể kết dính lại với nhau “. Glueck: “Chiến lược kinh doanh là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp được thiết kế để đảm bảo các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp sẽ được thực hiện”.
Theo trên, thuật ngữ chiến lược kinh doanh được dùng theo ba ý nghĩa phổ biến nhất, đó là: − Xác lập mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp; − Đưa ra các chương trình hành động tổng quát; − Lựa chọn các phương án hành động, triển khai phân bổ nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó. 6 Quan điểm phổ biến hiện nay cho rằng: “Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật phối hợp các hoạt động và điều khiển chúng nhằm đạt tới mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp”.2 Khái niệm quản trị chiến lược Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý chiến lược mà ta có thể đề cập đến như sau: ¾ Quản lý chiến lược là quá trình quản lý việc theo đuổi chức năng nhiệm vụ của một tổ chức trong khi quản lý mối quan hệ tổ chức đó đối với môi trường của nó. ¾ Quản lý chiến lược là tập hợp các quyết định và hành động quản lý quyết định sự thành công lâu dài của công ty. ¾ Quản lý chiến lược là tập hợp các quyết định và biện pháp hành động dẫn đến việc hoạch định và thực hiện các chiến lược nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.
Trong khuôn khổ luận văn này, ta dùng định nghĩa sau làm cơ sở: “ Quản lý chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như trong tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức; đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như tương lai” Mô hình Quản lý chiến lược gồm các bước như sau: 1. Phân tích môi trường. Xác định chức năng nhiệm vụ và mục tiêu, 3. Phân tích và lựa chọn các chiến lược.
Thực hiện chiến lược. Đánh giá và kiểm tra thực hiện. Bizzell, “Chiến lược và Sách lược kinh doanh”, NXB Lao động – Xã hội, 2007) Việc áp dụng quản trị chiến lược, về cơ bản, sẽ đem lại cho doanh nghiệp những lợi ích như sau: 7 1. Giúp nhận dạng, sắp xếp ưu tiên và tận dụng các cơ hội; 2.
Đưa ra cách nhìn thực tế về các khó khăn của công tác quản trị; 3. Đưa ra một đề cương cho việc phát triển đồng bộ các hoạt động điều hành doanh nghiệp; 4. Nhận dạng và có kế hoạch hành động để làm tối thiểu hóa các rủi ro và hậu quả nếu có; 5. Hỗ trợ quá trình đưa ra các quyết định chủ chốt và phục vụ tốt hơn cho việc đề ra các mục tiêu của doanh nghiệp; 6.
Giúp cho sự phân bổ tốt hơn thời gian và nguồn lực cho cơ hội đã được xác định; 7. Cho phép giảm thời gian và nguồn lực cần thiết để sửa đổi những lỗi lầm và các quyết định thời điểm; 8. Tạo ra khung sườn cho mối liên hệ giữa các cá nhân trong nội bộ công ty; 9. Giúp kết hợp những hành vi đơn lẻ thành một nỗ lực chung; 10.
Cung cấp cơ sở cho việc làm rõ trách nhiệm của từng cá nhân; 11. Đem lại sự khuyến khích cho những suy nghĩ tiến bộ; 12. Mang lại cách thức hợp tác, gắn bó và hăng say trong việc xử lý các vấn đề cũng như các cơ hội; 13. Khuyến khích thái độ tích cực đối với sự thay đổi; 14.
Đem lại một mức độ kỷ luật và sự chính thức đối với công tác quản trị trong công ty.3 Khái niệm hoạch định chiến lược Theo Alfred D. Chandler, nhà nghiên cứu lịch sử quản lý tại Đại học Havard, Hoa Kỳ, thì: “Xây dựng chiến lược là việc xác định những định hướng và mục tiêu dài hạn cơ bản của tổ chức và đưa ra phương án hành động và sự phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được những định hướng, mục tiêu đó”. Nguyễn Thị Liên Diệp, ThS. Phạm Văn Nam (2006), Chiến lược và Chính sách kinh doanh, NXB Lao động – Xã hội, Tp.
Theo các tác giả Bobby R. Arold và Garry D. Smith: “Xây dựng chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như tương 8 lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức; đề ra, thực hiện, kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như trong tương lai”. Arold và Garry D.
Smith (1994), Chiến lược và sách lược kinh doanh, NXB Tp. Từ các khái niệm trên, nhìn chung hoạch định chiến lược kinh doanh là một quá trình tư duy của nhà quản trị nhằm tạo lập chiến lược dựa trên các phân tích cơ bản. Một chiến lược kinh doanh thông thường bao gồm bốn yếu tố: 1) Mục tiêu chiến lược; 2) Phạm vi chiến lược; 3) Lợi thế cạnh tranh; và 4) Các hoạt động chiến lược và năng lực cốt lõi. Bốn yếu tố này đòi hỏi một sự nhất quán và ăn khớp với nhau trong quá trình xây dựng chiến lược của doanh nghiệp nhằm đảm bảo chiến lược được xây dựng hợp lý và mang lại hiệu quả cao nhất có thể cho doanh nghiệp, và giúp doanh nghiệp xây dựng được lợi thế cạnh tranh bền vững lâu dài trong quá trình phát triển của doanh nghiệp.2 Các loại hình chiến lược kinh doanh Trong một tổ chức, công việc quản trị chiến lược có thể tiến hành ở 03 cấp cơ bản: Cấp công ty; Cấp đơn vị kinh doanh; và Cấp bộ phận chức năng.
Tiến trình quản trị chiến lược ở mỗi cấp về cơ bản có hình thức giống nhau và bao gồm các giai đoạn như sau: − Phân tích môi trường xác định nhiệm vụ và mục tiêu; − Phân tích, lựa chọn và xây dựng chiến lược; − Tổ chức thực hiện, kiểm tra và hoàn thiện chiến lược.