Chương 1 giới thiệu về vấn đề cần nghiên cứu, mục đích, phương pháp, phạm vi và ý nghĩa của nghiên cứu. - Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về các khái niệm liên quan đến đề tài. - Chương 3 trình bày mô hình nghiên cứu và các giả thuyết - Chương 4 trình bày quy trình thiết kế nghiên cứu bao gồm các bước chọn mẫu, xây dựng thang đo, thiết kế bảng câu hỏi, thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu. - Chương 5 trình bày kết quả của nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức.
- Chương cuối cùng tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu, những đóng góp và những hạn chế của nghiên cứu để định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Giới thiệu Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay, nhu cầu học tập tri thức một cách hiệu quả của các doanh nghiệp đã trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, đặc biệt là thu nhận tri thức từ doanh nghiệp ở các nước phát triển. Liên doanh quốc tế sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận công nghệ, kỹ thuật và các năng lực khác một cách nhanh chóng.
Học tập trong các liên doanh quốc tế được coi như là một phương tiện để thu nhận tri thức, kinh nghiệm và các bí quyết kinh doanh. Tầm quan trọng của học tập từ các công ty mẹ nước ngoài trong các liên doanh quốc tế đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Học hỏi từ các công ty mẹ nước ngoài được coi là yếu tố quyết định sự thành công của IJVs, đặc biệt là IJVs tại các nền kinh tế chuyển đổi do các công ty trong các nền kinh tế này thường thiếu kiến thức và kỹ năng cần thiết để cạnh tranh trong thị trường quốc tế (Lane, Salk, Lyles, 2001). Học tập tri thức thông qua liên doanh là rất quan trọng; tuy nhiên, quá trình này diễn ra tương đối phức tạp và có nhiều thử thách.
Để hiểu được quá trình phức tạp này, chúng ta cần nắm bắt những cơ sở lý thuyết liên quan đến liên minh quốc tế, quản trị tri thức, học tập tổ chức. Liên minh chiến lược quốc tế 2. Liên minh chiến lược Một liên minh chiến lược được định nghĩa là sự hợp tác lâu dài giữa hai hay nhiều doanh nghiệp cùng cam kết trong hoạt động kinh doanh, hoặc trong hoạt động hỗ trợ nhằm thu lại lợi ích cho các bên (Tsang, 1999). Có nhiều lý do để hình thành nên một liên minh chiến lược.
Có thể kể ra một số lý do sau: - Giảm thiểu rủi ro: rủi ro được chia sẻ cho các bên đối tác. Hợp tác giữa các doanh nghiệp sở hữu các nguồn lực khác nhau nhằm bổ sung sự thiếu hụt cho nhau. 6 - Rút ngắn thời gian: liên minh được đánh giá là cách nhanh nhất để đạt được những mục tiêu chiến lược, hạ giá thành sản phẩm, tăng doanh thu, tiếp nhận công nghệ mới nhanh chóng, thâm nhập thị trường, vượt qua các rào cản pháp lý (Elmuti & Kathawala, 2001). - Học tập tổ chức: Sự hợp tác giữa các bên có kỹ năng và nền tảng tri thức khác nhau, tạo cơ hội cho các bên có thể truy cập hay học tập tri thức của nhau (Inkpen, 1998).
Một động lực quan trọng nằm phía sau việc hình thành các liên minh chiến lược là truy cập vào các nguồn lực có giá trị của đối tác. Trong một nghiên cứu thực hiện ở Trung Quốc, Tsang (1999) nhận thấy rằng các công ty thuộc các nước đang phát triển thường học các kỹ năng, công nghệ, tri thức cũng như hệ thống quản lý của đối tác. Trong khi đó, đối tác từ nước ngoài học về các kinh nghiệm hoạt động kinh doanh, cách triển khai các loại công nghệ kỹ thuật mới và việc hoạt động kinh doanh ở môi trường mới. Liên minh chiến lược được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như liên doanh, nhượng quyền thương hiệu, trao đổi kỹ thuật.
Nghiên cứu này sẽ tập trung vào nghiên cứu việc học tập tri thức trong các công ty liên doanh quốc tế. Công ty liên doanh quốc tế Công ty liên doanh quốc tế được hiểu là hai hay nhiều doanh nghiệp từ các nước khác nhau đóng góp nguồn lực để phát triển một công ty mới cùng sở hữu và cùng quản lý. Các đối tác đóng góp nguồn lực có được qua các hình thức công nghệ, nhân lực hoặc là quy trình kinh doanh. Liên doanh quốc tế được xem như là phương tiện để cung cấp cơ hội cho các bên đối tác truy cập tri thức của nhau và phát triển tri thức (Beamish & Berdrow, 2003).
Lý thuyết về quản trị chiến lược và liên doanh quốc tế thừa nhận rằng thu nhận tri thức là động lực quan trọng cho việc hình thành công ty liên doanh quốc tế (Lyles & Salk, 1996). Quản trị tri thức 7 Từ xưa đến nay, tri thức đóng vai trò quan trọng không kém các loại tài sản khác. Cùng với các nguồn lực cổ điển như đất đai, lao động và vốn, tri thức được xem là yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp và quốc gia. Tri thức được coi là nguồn lực quan trọng tạo nên lợi thế cạnh tranh.
Do đó, quản trị tri thức là vấn đề sống còn của mọi tổ chức. Đây được xem là hoạt động có chủ ý nhằm tạo ra, tiếp nhận, phân bổ và áp dụng tri thức với mục đích theo đuổi và đạt được kết quả chiến lược mong muốn (Berbrow & Lane, 2003). Áp dụng thành công việc quản trị tri thức sẽ tạo được lợi thế chiến lược và đảm bảo sự phát triển bền vững của tổ chức. Tri thức của doanh nghiệp bao gồm cả tri thức tường minh (explicit knowledge) và tri thức hàm ẩn (tacit knowledge) (Kimiz Dalkir, 2005).
Do đó, quản trị tri thức có thể được hiểu là cách tiếp cận quản lý cả tri thức hàm ẩn và tường minh để tạo ra giá trị cho tổ chức; là các thực tiễn, các phương pháp (về công nghệ và quản lý) để xác định, tạo ra, biểu diễn và phân phối tri thức trên toàn tổ chức (Kimiz Dalkir, 2005). Tri thức tường minh có thể dễ dàng truyền đạt và tiếp nhận, trong khi tri thức hàm ẩn thì khó khăn để xác định do mối liên kết của nó với các khía cạnh khác như cách thức hoạt động và bối cảnh xã hội. Tri thức tường minh có thể được chuyển giao nhanh chóng bằng nhiều cách khác nhau; trong khi đó, tri thức hàm ẩn được chuyển giao rất chậm và đòi hỏi phải mở rộng quan hệ xã hội. Có những định nghĩa khác nhau về quản trị tri thức dưới những góc nhìn khác nhau: - Từ góc nhìn kinh doanh: xem tri thức là mối quan tâm chính, thể hiện ở chiến lược, chính sách kinh doanh trong tổ chức; và thiết lập kết nối giữa tài sản trí tuệ của tổ chức với kết quả hoạt động kinh doanh (Barclay & Murray, 1997).
- Từ góc nhìn của khoa học nhận thức: Tri thức - tầm nhìn, hiểu biết, và kinh nghiệm mà chúng ta sở hữu - là tài nguyên căn bản giúp ta có thể hoạt động một cách thông minh. Tri thức tích lũy có thể chuyển giao, nếu được sử dụng hợp lý, sẽ làm tăng hiệu quả, và tạo ra sự thông minh của cá nhân và tổ chức. Bốn yếu tố làm tăng tầm quan trọng của quản trị tri thức: - Toàn cầu hóa: Các tổ chức ngày nay thường hoạt động trên phạm vi toàn cầu – nhiều địa điểm, ngôn ngữ, và nền văn hóa. 8 - Tổ chức học tập: Chúng ta làm được nhiều hơn và nhanh hơn, nhưng chúng ta cũng phải làm việc thông minh hơn, phải thích nghi nhanh hơn và làm việc nhiều hơn.
- Đánh mất tri thức cộng tác: Chúng ta thay đổi công việc nhiều hơn, vì thế tạo ra các vấn đề về kế thừa tri thức một cách liên tục đối với tổ chức, và đòi hỏi chúng ta phải học tập suốt đời. - Tiến triển về công nghệ: Chúng ta kết nối với nhau nhiều hơn. Những tiến bộ về CNTT không chỉ làm cho khả năng kết nối mọi lúc mọi nơi mà còn làm thay đổi các mong đợi. Chúng ta phải kết nối mọi lúc và thời gian đáp ứng ngày nay được tính bằng phút.
Quản trị tri thức không phải là quy trình đơn giản mà nó là tổng hợp các cố gắng, tương tác với các quy trình xã hội, chính trị và cũng có thể dẫn đến những xung đột đối với những phần khác của tổ chức (Delong & Seeman, 2000). Lý do dẫn tới xung đột có thể do sự khác biệt về ngôn ngữ, quy tắc và tầm nhìn. Quản trị tri thức hiệu quả sẽ thúc đẩy doanh nghiệp phục vụ khách hàng một cách tốt nhất và duy trì lợi thế cạnh tranh. Một hình thức làm giàu kho tri thức mà các công ty thường thực hiện là học tập tổ chức.
Các cấp độ học tập trong các doanh nghiệp Lý thuyết về học tập tổ chức đề cập đến hai hướng nghiên cứu chính: là sự thay đổi về chiều rộng và sự thay đổi về chiều sâu (Miner & Mezias, 1996). - Đối với sự thay đổi về chiều rộng: Học tập tổ chức có thể xem là hệ thống học tập thích nghi; trong đó, các thói quen và hành vi thích ứng của doanh nghiệp là cần thiết cho việc học tập. - Đối với thay đổi về chiều sâu: Học tập là quá trình thay đổi nền tảng tri thức của doanh nghiệp. Không giống như học tập thích nghi; học tập sáng tạo yêu cầu doanh nghiệp có cách nhìn mới về thế giới, hiểu nhiều hơn về khách hàng và hiểu cách nào để quản lý kinh doanh tốt hơn.
Argyris và Schon (1978) chia học tập thành ba cấp độ: single-loop learning, double-loop learning và deutero learning. 9 - Single-loop learning đề cập đến cách thức mà các sai sót được chỉnh sửa thông qua những thông tin phản hồi. Ở dạng này của học tập, đầu tiên chúng ta xem xét những hành động của chính chúng ta. Tùy vào kết quả, những hành vi sẽ được thay đổi.
Những thay đổi này sẽ giúp cho hoạt động tốt hơn mà không cần phải thay đổi niềm tin và những giả định trước đó. - Double-loop learning là quá trình qua đó những nguyên lý và chiến lược được phát triển để xác định những cách thức hoạt động cho doanh nghiệp trong tương lai. Chúng ta thay đổi cách thức ra quyết định và hiểu rõ hơn những quy tắc hoạt động. Theo Kloot (1997), double-loop learning xuất hiện trong doanh nghiệp vì các lý do sau: một khủng hoảng được dự báo trước, hoặc tình huống được tạo ra nhằm thay đổi trạng thái hiện thời của doanh nghiệp, hoặc những giải pháp.