Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CUA PHÁP LUẬT VE BẢO DAM QUYEN BAO CHUA CUA BỊ CAN, BỊ CÁO 1. Lý luận chung về bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo 1. Một số khái niệm về bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo 1. Khái niệm quyên bào chữa của bị can, bị cáo Một trong những hình thức đầu tiên và cơ bản nhất để đảm bảo thực hiện quyền con người, đó chính là ghi nhận công dân có quyén tự bảo vệ mình trước bat kỳ sự xâm phạm nao.
Trong quan hệ pháp luật hình sự, mối quan hệ giữa một bên là người bị tình nghi phạm tội hay người bị buộc tội và một bên là đại diện các cơ quan tiến hành tố tung chứng minh hành vi phạm tội của người bị tình nghỉ là có hành vi phạm tội. Trong mối quan hệ này, “Người bị buộc tội là phạm một tội hình Sự CÓ quyền được coi là vô tội cho tới khi tội của người đó được chứng mình theo pháp ludt.2 Dé chỗng lại xu hướng áp đặt của các cơ quan tiến hành tô tụng, pháp luật đã dành cho người bị buộc tội quyền tự bảo vệ mình, chứng minh mình vô tội trước các cáo buộc của các cơ quan tiên hành tô tụng, đó chính là quyền bào chữa. Quyền con người luôn được đề cập trong các đạo luật của mỗi quốc gia. Qua lịch sử đấu tranh, tồn tại và phát triển, quyền đó vẫn luôn được ghi nhận và bảo đảm.
Những nguyên tắc về quyền con người, trong đó có quyền bào chữa luôn được hoàn thiện dần theo thời gian và đã được khăng định trong các văn bản pháp lý quan trọng. Quyên bào chữa chính thức được quy định trong Tuyên ngôn về nhân quyền của Liên Hợp quốc: “Bị cáo về một tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng thượng phạm pháp trong một phiên xử công khai với đây đủ bảo đảm cân thiết cho quyên biện hộ”. Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền năm 1948 (UDHR) đã ghi nhận các nguyên tắc cơ bản về quyền của con người phải đối mặt với những cáo buộc hình sự. Tại Điều 10 của UDHR ghi nhận “Moi người déu bình dang về quyên được xét xử công bằng và công khai bởi một Toà án độc lập và khách quan để xác định các quyén va nghĩa vu cua họ, cũng như về bat cứ sự buộc tội nào đối với họ”.
Mặc dù không quy định trực tiếp quyền bào chữa nhưng quy định trên đã xác định quyền được có ? Khoản 2 Điều 14 Công ước Quốc tế về quyền dân sự và chính trị của Đại Hội đồng Liên hợp quốc năm 1966. 3 Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền của Đại Hội đồng Liên hợp quốc năm 1948. những bảo đảm hợp lý cho việc bào chữa của người bị buộc tội là một trong những tiêu chí cơ bản của xét xử công bằng. Quyền bào chữa được quy định tại Công ước của Liên hợp quốc về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) tại điểm d khoản 3 Điều 14 như sau: “Trong quá trình xét xử về một tội hình sự, mọi người déu có quyên được có mặt trong khi xét xử và được tự bào chữa hoặc thông qua sự trợ giúp pháp lý theo sự lựa chọn của minh; được thông báo về quyên này nếu chưa có sự trợ giúp pháp ly; và được nhận sự trợ giúp pháp lý theo chỉ định trong trường hợp lợi ích của công lý đòi hỏi và không phải trả tién cho sự trợ giúp đó nếu không có đủ điều kiện trả”.
Như vậy quy định tại Điều 14 ICCPR đã xác định nội dung của quyền bào chữa bao gồm quyền tự bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa trong đó bao gồm cả việc cung cấp tư van pháp luật miễn phí cho bị can, bị cáo không đủ kha năng chi trả chi phí này. Đối với Việt Nam, trong vai trò là một thành viên của Công ước của Liên hợp quốc, quyền bào chữa là một trong các quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong tất cả các bản Hiến pháp của nước ta. Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946, tại Điều 67 trong Chương các cơ quan tư pháp quy định: “Người bị cdo được quyên tự bào chữa lay hoặc mượn luật sư”. Trong Hién pháp năm 1959 và Hiến pháp 1980 quyền bào chữa đều được quy định tại Chương Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân, cụ thể Điều 101 Hiến pháp 1959 và Điều 133 Hiến pháp 1980 ghi nhận: “Quyển bào chữa của bị cáo được bảo đảm.
Hién pháp năm 1992 quy định quyền bào chữa tại Điều 132: “Quyên bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. T:6 chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của minh và góp phan bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Như vay, Hién pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992 đều xếp quyên bao chữa trong chương về cơ quan tư pháp.
Quyền bào chữa của người bị buộc tội chỉ được đảm bảo thực hiện trong phạm vi của giai đoạn tại Tòa án nhân dân (giai đoạn xét xử). Đến Hiến pháp năm 2013, quyền bào chữa không chỉ được quy định là một nguyên tắc của hoạt động xét xử mà quyền bào chữa còn được mở rộng đối với “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khỏi tố, diéu tra, truy tố, xét xử” (khoản 4 Điều 31). Quyền bào chữa trong Hiến pháp năm 2013 được sắp xêp trong nhóm quyên cơ bản của công dân, quyên con người, xác định rõ quyền bao chữa là quyền con người, quyền công dân nên không chi co quan xét xử mà tất cả các cá nhân, cơ quan, tô chức trong xã hội phải có trách nhiệm tôn trọng và được Nhà nước đảm bảo thực hiện. Trong Hiến pháp của các quốc gia khác trên thế giới cũng ghi nhận quyền bào chữa một cách rất cụ thể.
Điều 48 Hiến pháp liên bang Nga năm 1993 quy định: “1. Mỗi người đều có quyên được trợ giúp pháp lý. Trong những trường hop được pháp luật liên bang quy định, sự trợ giúp pháp lý không mat tiền. Mỗi người bị bắt, tạm giam, tạm giữ, người bị kết tội đều có quyên sử dụng trợ giúp pháp ly của luật sư từ thời điểm bị bắt, tạm giam, tạm giữ, bị buộc tội”.
Tại Điều 37 Hiến pháp Nhật Ban năm 1946 nêu rõ: “Bi cáo được luật sư bào chữa. Nếu trong các quy trình, thủ tục, bị cáo không có tiền thuê luật su thì tòa án sẽ chỉ định một luật sư để bào chữa cho bị cáo”. Hay trong quy định của khoản 4, khoản 5 Điều 12 Hiến pháp Hàn Quốc năm 1987: “Bát kỳ người nào bị bắt hoặc bị tạm giữ có quyên nhanh chóng có luật sư tư vấn. Khi một bị cáo không thể tự bào chữa, Nhà nước sẽ chỉ định luật sư cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Không ai bị bắt hoặc bị giam giữ mà không được thông báo về lý do và có quyên được luật sư giúp đỡ”. Ở các quốc gia khác trên thế giới quyền bào chữa hay được gọi dưới các hình thức khác như quyền có luật sư, quyền được trợ giúp pháp lý là quyền cơ bản của công dân và được bảo đảm thực hiện một cách chặt chẽ. Các quy định này đều tuân các nội dung cơ bản trong Công ước của liên hợp quốc về các quyền dân sự, chính trị đó là người bị buộc tội có quyền được bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, trong trường hợp không có người bào chữa thì được nhà nước chỉ định người bào chữa mà không phải trả tiền. Quyền bào chữa là một trong những chế định quan trọng và phức tạp, vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn cao.
Từ trước đến nay, quyền bào chữa đã được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu song xung quanh khái niệm, nội dung bản chat, chủ thé. của quyền này còn nhiều ý kiến khác nhau. Có thé ké đến một số quan điểm như sau: PGS.TS Hoang Thị Sơn quan điểm: “Quyển bào chữa của bị can, bị cáo là tong thé các quyền mà pháp luật quy định bị can, bị cáo có thé sử dụng nhằm bác * Hà Thái Thơ, Huỳnh Xuân Tình, Đảm bảo quyền bào chữa theo quy định của Hiến pháp 2013 và Bộ luật Tố tụng hình sự 2013, http://www.vn/home/index.php/dien-dan/item/1902-dam-bao-quyen-bao- chua-theo-quy-dinh-cua-hien-phap-2013-va-bo-luat-to-tung-hinh-su-2015.html, truy cập ngày 05/6/2019. bỏ một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho họ”." Quan điểm này cho rằng quyền bào chữa chỉ thuộc về bị can, bị cáo chứ không thuộc về đối tượng nào khác và quyền này chỉ giới hạn trong việc bác bỏ một phần hay toàn bộ lời buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho bị can, bị cáo.
Đối với việc bảo vệ các quyên và lợi ích khác của bị can, bị cáo không trực tiếp liên quan đến việc bác bỏ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho bị can, bị cáo trong vụ án thì không thuộc về giới hạn của quyền bào chữa. Người bị tạm giữ, người bị kết án không được coi là đối tượng bị buộc tội nên van đề bào chữa không đặt ra với họ.TS Pham Hong Hai cho rằng: “Quyên bào chữa là tổng hòa các hành vi to tung do nguoi bi tam gitt, bi can, bi cdo, nguoi bi kết án thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phú nhận một phan hay toàn bộ sự buộc tội của cơ quan tiễn hành tô tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình sự". Theo quan điểm nay thì chủ thé của quyền bào chữa bao gồm: Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người bị kết án. Nhu vậy, xoay quanh khái niệm quyền bao chữa, nội dung bào chữa, phạm vi bào chữa, chủ thé bào chữa và cơ chế đảm bảo quyền bào chữa vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều, thiếu thống nhất.
Trong luận văn này, tác giả không đề cập đến việc phân tích từng quan điểm đó mà trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành để đưa ra một khái niệm riêng về quyền bào chữa của bị can, bị cáo.