Chương 1: Những vẫn để lý luận vả quy định của pháp luật vẻ thực hiên quyển bảo chữa của bị cáo trong giai đoạn xét xử sở thẩm vụ án hình sự. Chương 2: Thực tiến áp dung tại thành phố Ha Nội và giải pháp nhằm hoan thiện pháp luật, nêng cao hiệu quả thực hiện quyền bảo chữa của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vu án hình sự. NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CUA PHÁP. LUAT VE THỰC HIỆN QUYEN BAO CHỮA CỦA BỊ CÁO TRONG.
GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẲM VỤ ÁN HÌNH SỰ 111. Những vấn đề lý luận về thực hiện quyền bào chữa của bị cáo trong. giai đoạn xét xử sở thâm vụ án hình sự. LLL, Khái lệmquyên bào chữa của bị cáo.
"Tranh tung trong quá trình giải quyết vụ án hình sự chỉ có thể đạt hiệu. quả cao khi tổn tai song song hai chức năng là buộc tôi và gỡ tối, chức năng, gỡ tôi tổn tai độc lập và đổi trong với chức năng buộc tôi. Theo đó, quyên bảo chữa (gỡ tôi) của người bi buộc tôi được nhà nước ta ghi nhân la một nguyên. tắc cơ bản trong Bộ luật tổ tung hình sự (BLTTHS).
định cu thể nguyên tắc này tại Điều 16 vé bao đâm quyển bào chữa của người ‘bi buộc tôi, bao về quyển và lợi ich hợp pháp của bi hai, đương sự. Theo Khoản 1 Điều 4 BLTTHS năm 2015 thi người bi buộc tội bao gôm người bi bắt, người bi tam giữ, bi can, bi cáo. Quyén bao chữa chỉ đặt ra với người bị buộc tôi, còn bi hai và đương sự khác thì không có quyển nay. Bai vi, hoạt đông tổ tung hình sự là hoat đông nhằm phát hién vẻ hành vi tôi pham dé truy cứu trách nhiém hình sự người pham tôi, ap dụng các biến pháp, cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nha nước kể cả hình phat đối với người đó nhằm trừng tri và giáo đục họ, kèm theo đó là các hoạt đồng có thé tác đông rat lớn đến quyền con người của người bị buộc tôi.
Theo đó, vẫn để vẻ tôi pham va hình phạt chỉ đất ra với người bị buộc tôi, chứ không đặt ra với người bi hai và các đương sự khác. Người bị hại và các đương sự khác không là đối tương để áp dung trách nhiệm hình sự, hình phat, nói cách khác ho không gây ra các hảnh vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bồ luật hình sự (BLHS) nên nếu đất ra quyên bảo chữa cho các đối tượng này thi Tm Rhoän 1 D4 BLTTHSniE 2015 10 không có ý nghĩa đối với họ. Người bi buộc tôi sử dung quyền bao chữa nhằm hướng tới việc bác bô một phan hoặc toàn bộ sự buộc tội không đúng cia cơ quan tiền hành tổ tung hoặc nhằm làm giảm nhe trách nhiệm hình sự mà ho phải gánh chiu. Người bi buộc tội được pháp luật quy định cho các quyền để thực hiển.
việc gỡ tôi, bao vệ chính họ, chống lai sự buộc tội không đúng của cơ quan tiên hanh té tụng, có thểké đến một sô quyền như quyển được biết lý do mình. ‘bi giữ, bị bắt, bị tam giữ, bị Khởi tổ, quyền được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ của minh, quyên được trình bảy lời khai, trình bảy ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhân minh có tội, quyển được đưa ra chứng cứ, tai liệu, dé vật, yêu cấu, quyển được trình bây ý kién vé chứng cử, tải liệu, đỗ vật liên quan va yêu cầu người co thẩm quyên tiền hanh tổ tung kiểm tra, đánh gia; quyền được tự bảo chữa, nhờ người khác bảo chữa, quyền được để nghỉ chủ tọa phiên tòa hồi hoặc tự ‘minh hỗi người tham gia phiên tòa nếu được chủ tọa đồng ý, quyển được tranh luận tại phiên tòa, quyền được nói lời sau cùng trước khi nghỉ an; quyền. được xem biên bản phiên tòa, yêu câu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên. ‘ban phiên tòa, quyển được kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án.
Chính những quyên này, người bi buộc tôi sử dụng để thực hiên việc bảo chữa, gổ tôi cho mình. Chẳng hạn như quyển được tranh luận tại phiên tòa, người bi ‘budc tội (cu thé 1a bị cáo) đưa ra các lập luận, lý lẽ để phản bác, bác bỏ các quan điểm đối lập của Viện kiểm sắt (VKS), nhằm truyền tai sức manh những điêu họ nêu 1a đúng va đông thời chỉ ra những điểm yêu, những điểm bat hợp ý trong lời luận tôi của VKS va quan điển, y kiến của người tham gia tổ tụng khác, từ đó người buộc ti có thể chồng lại sự buộc tôi, bão vệ chính mình. Các chế định về quyển bảo chữa và thực hiện quyển bảo chữa của người bị buộc tôi được đưa ra lả cần thiết, để đảm bao các quyển con người, ul quyên công dân, cũng như đảm bao cho việc giải quyết vu án một cách khách quan, toàn điện, tránh tình trạng oan sa Để iu hơn về quyển bảo chữa, trước hết chúng ta cần phân tích về quyển va bảo chữa. Quyển lả điều ma pháp luật hoäc xã hội công nhân cho được hưởng, được làm, được đòi hai” ‘Theo đó, quyển phải xuất phát từ việc được pháp luật hoặc xã hội công nhận.
‘Vi dụ như quyền bau cử, quyển ứng cit, quyển bảo chữa. lá những quyển được pháp luật công nhân cho phép công dân được làm, được hưỡng vả được đôi hôi. Các quyển về quyền được sống, quyển được tư do, quyển được mưu. cẩu hạnh phúc.
là những quyển được toàn xã hội và nhân loại công nhận Bo là các quyển đương nhân được hưỡng của một con người. Củn bảo chữa được hiểu là dùng lý lẽ và chứng cớ để bênh vực cho một đương su nao đó thuộc một vụ án hình sự hay dân sự trước tòa án, hoặc cho việc nào đó đang bị lên án, Theo đó, hoạt động bảo chữa xuất hiện khi có hành vi, việc lam dang bị lên án và hình thức để bênh vực là ding lý lẽ và chứng cớ chứ không phải dùng bao lực, tiễn bac hay vat chất nào khác, “Xung quanh khái niệm vé quyền bảo chữa, có rat nhiên quan điểm khác nhau đưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, một số quan điểm cụ thể là. ~ Quan điểm thứ nhất cho rằng. "Quyển bảo chữa là tổng hoa các hảnh vi tổ tung hướng tới việc bãi bd sự buộc tôi va zác định bi can không có lỗi hoặc nhằm lam giảm trách nhiệm của bị can”®.
Ở quan điểm này, đã nêu khái quất được đặc trưng riêng cia quyên bảo chữa 1a nhằm hướng tới bai bé sự ‘bude tôi, xác định người dé không có lỗi hoặc lâm giảm nhe trách nhiệm của người đó. Tuy nhiên, quan điểm nảy về nội ham thi rất rông vì bao gém tổng. hỏa tắt cã các hảnh vi té tụng va mới chỉ hướng đến một chủ thể la bị can "Boing Thứ (chữ biện, 2018), Tedd Tổng Vật" 20. Hằng Đức, H Nội ư 1051 "Hing Phê (chữbiôa, 2018), ‘Ted Tổng Vit" 20D, Hàng Đức HANG, tr 47 ° Phi Bằng His 4609), Dim bio quyền bảo cla cia ngờibs buộc tộc) NB.
Công mab din, HH Nenad 12 ~ Quan điểm thứ hai cho rang: “Quyển bảo chữa được hiểu rộng hon, nó không chỉ dừng lai ở việc bác bé sự buộc tội va sắc đính bi can không có lỗi hay làm giảm trách nhiệm của bi can ma nó còn được thể hiển trong cả việc dam bảo các quyển va lợi ích được pháp luật bảo vệ của bị can kể cả khi chúng không trực tiếp liên quan tới việc làm giảm trách nhiệm của bi can trong vụ an”, Theo quan điểm này thì quyên bảo chữa được hiểu rông hơn, mỡ rộng mục dich của quyển bảo chữa hơn, quyển bảo chữa được thể hiện ngay cả khí thực hiện việc dim bao các quyển và lợi ích được pháp luật bao vệ của bị can mặc đù nó không trực tiếp liên quan tới việc lam giảm trách nhiệm hình sự cũa bi can trong vụ án. ~ Quan điểm thứ ba cho rằng: “Quyên bảo chữa không chỉ thuộc vẻ bị can, bị cáo mà còn thuộc vé người bi tỉnh nghỉ pham tôi, người bị kết an, người bảo chữa, bi đơn dân sự và người dai diên hợp pháp cia hợ" Dưới góc đô tiếp cân đổi tượng có quyên bảo chữa, quan điểm nảy đã chỉ ra được. các đối tượng có quyền bảo chữa gémbi can, bị cáo, người bị tinh nghỉ phạm. tôi, người bi kết án, người bao chữa, bi don dân sự va người đại diện hợp pháp của ho.
Tuy nhiên, nếu chỉ đưa ra khái niệm quyển bảo chữa theo quan. điểm này thì chưa nêu rổ được nội ham cia quyển bảo chữa. Hơn nữa, như phân tích 6 trên thì quyển bao chữa không đặt ra với đổi tượng là bi đơn dân. sự ~ Quan điểm thứ tư cho rằng: “Quyền bảo chữa trong Bộ luật tổ tụng.
tỉnh sự la tổng hoà các hảnh vi tổ tung do người bị tam gjữ, bị can, bị cáo, người bị kết an thực hiện trên cơ sở phù hop với quy định của pháp luật nhằm. phủ nhên một phan hay ton bộ sự buộc tội của cơ quan tién hành tổ tung, lâm. “hum Hằng Hii (1999), Dina bio gyn bảo chế cia nguờibị bude tb. Công en nhin din | Hi Num1E ` Viên kim st nhân din ti cao (1995), Những vin đề ý hận và te ẩn cấp bí của Tật tổng hàn sR yên đồ tàyhou học, Hà Nột giảm nhe hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình su”? Theo quan điểm nảy thì phẩn nào đã nêu rõ được các đổi tương thực hiện quyền bao chữa và mục đích, ý nghĩa cia việc thực hiện quyển bao chữa.
Tuy nhiên, nêu ding phương pháp liệt kê doi trong được hưởng quyền nảy thì sé có liệt kế không đẩy di. Bai theo Khoản 1 Điều 58 BLTTHS năm 2015 thì người bị bắt cũng có quyển bảo chữa, nhưng lại chưa được liệt kế. nữa, việc thực hiện quyền bảo chữa mà thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật thi sẽ rất khó áp dung vi sự phủ hợp là dau hiệu định tinh, không rổ răng Qua đó, tác giả rút ra đánh giá chung là mỗi quan điểm nêu trên đều. được lý giải trên những góc tiếp cân khác nhau, phẫn nao đã nêu ra được nội ‘ham khai niệm về quyền bảo chữa, các quan điểm trên déu có những ưu điểm và nhược điểm riêng.
Đồi tượng thực hiện quyền bảo chữa trong một sé quan điểm trên được đưa ra trong pham vi còn hẹp, chưa phủ hợp với quy định.