Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ QUYỀN BÀO CHỮA CỦA BỊ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.1 Một số vấn đề lý luận chung về quyền bào chữa của bị cáo trong tố tụng hình sự 1.1 Khái niệm, đặc điểm của quyền bào chữa của bị cáo trong tố tụng hình sự Quyền con người là một trong những thành tựu vĩ đại của nhân loại, có giá trị và ý nghĩa to lớn đối với tất cả mọi người trên thế giới. Quyền con người được ghi nhận ở hầu hết các văn bản pháp lý quốc tế như: Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (năm 1966); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (năm 1966); Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (năm 1948). Quyền con người không hoàn toàn tuyệt đối đối với mỗi con người cụ thể, nó có thể bị giới hạn theo quy định của luật pháp nhằm đảm bảo quyền con người của mọi người, giá trị đạo đức, lợi ích chung của cộng đồng, xã hội. Một trong những quyền con người cơ bản là quyền tự bảo vệ mình trước bất kỳ sự xâm phạm nào.
Khẳng định con người có thể phòng ngừa, ngăn chặn hay chống lại bất kỳ hành vi nào xâm phạm tới họ trong khuôn khổ pháp luật. Pháp luật Việt Nam thừa nhận và tôn trọng các quyền con người của mọi người dân. Điều 14 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 khẳng định: “Ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Và Hiến pháp cũng quy định rõ: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng”.
TTHS dưới góc độ một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật quốc gia đã cụ thể hóa các quy định về quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013 nhằm bảo đảm thực hiện quyền con người trong TTHS. TTHS là quá trình áp dụng pháp luật hình sự. [52, tr18] Quá trình áp dụng đó là việc thông qua 6 luan an cưỡng chế để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích xã hội và phòng chống tội phạm. Có thể hiểu TTHS là quá trình thực hiện các quy định mang tính chất hình thức, trình tự, thủ tục bắt buộc trên cơ sở pháp luật hình sự nhằm xác định một hành vi nào đó có phải tội phạm hay không, xác định cá nhân, pháp nhân không có tội hay có tội.
Người bị tình nghi phạm tội hay người bị buộc tội là một bên trong mối quan hệ với bên buộc tội là đại diện các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, có nghĩa vụ chứng minh hành vi phạm tội của người bị tình nghi, người bị buộc tội. Các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bằng kiến thức pháp luật, chuyên môn được giao nhiệm vụ buộc tội, chứng minh việc buộc tội của mình là chính xác nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên người bị tình nghi, người bị buộc tội chưa thể bị coi là có tội khi chưa có bản án có hiệu lực pháp luật của TA. “Để chống lại xu hướng áp đặt của các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, pháp luật đã dành cho người bị buộc tội quyền tự bảo vệ mình, phản bác sự buộc tội, chứng minh mình vô tội trước các cáo buộc của các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, đó chính là quyền bào chữa”[59, tr.
Hiện nay, quyền bào chữa được hiểu bao gồm hai quyền là quyền TBC và quyền nhờ người khác bào chữa. Cũng chưa có một khái niệm pháp lý nào về “quyền TBC và nhờ NBC” của người bị buộc tội nói chung và của BC nói riêng trong TTHS. Việc đưa ra khái niệm quyền TBC và nhờ NBC của người bị buộc tội nói chung và của BC nói riêng trong TTHS là cần thiết nhằm hiểu rõ khái niệm này trong xây dựng pháp luật và trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Trong nghiên cứu lý luận, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số quan điểm về khái niệm quyền bào chữa trong TTHS nhưng vẫn chưa có sự thống nhất và còn nhiều tranh luận.
Quan điểm thứ nhất ủng hộ theo quan điểm của nhà luật học Xô viết Stragovic M.S cho rằng: “Quyền bào chữa là tổng hoà các hành vi tố tụng hướng tới việc bác bỏ sự buộc tội và xác định bị can (bị cáo) không có lỗi hoặc nhằm làm giảm trách nhiệm của bị can (bị cáo)” và “Quyền bào chữa của bị can (bị cáo) là tất cả các quyền năng tố tụng mà pháp luật quy định cho bị can (bị cáo) để bảo vệ khỏi mọi sự buộc tội và được bị can (bị cáo) sử dụng để bác bỏ sự buộc tội, để đưa 7 luan an ra các lý lẽ và chứng cứ trong việc biện minh hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm của mình”.196] Quan điểm thứ hai cho rằng, quyền bào chữa được hiểu rộng hơn, nó không chỉ dừng lại ở việc bác bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hay làm giảm trách nhiệm của bị can mà nó còn được thể hiện trong cả việc đảm bảo các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ của bị can kể cả khi chúng không trực tiếp liên quan tới việc làm giảm trách nhiệm của bị can trong vụ án.5] Quan điểm thứ ba cho rằng, quyền bào chữa còn thuộc về người bị tình nghi phạm tội, người bị kết án, bị hại, bị đơn dân sự, nguyên đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ hay NBC, giám định viên, nhân chứng. nếu quyền và lợi ích của họ bị xâm phạm. Quan điểm thứ tư theo PGS.TS Phạm Hồng Hải cho rằng: “Quyền bào chữa trong BLTTHS là tổng hoà các hành vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can, BC, người bị kết án thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong VAHS”.34] Quan điểm thứ năm cho rằng: “Quyền bào chữa của bị can, BC là tổng thể các quyền mà pháp luật quy định bị can, BC có thể sử dụng nhằm bác bỏ một phần hay toàn bộ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho họ.5] Quan điểm thứ sáu cho rằng: “Quyền bào chữa là quyền của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử dùng để bảo vệ trước các chủ thể tiến hành tố tụng từ thời điểm bị buộc tội đến khi có quyết định của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng về việc có tội hay không có tội.7] Quan điểm thứ bảy cho rằng: “Quyền bào chữa của người bị buộc tội trong TTHS là quyền của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, BC thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự trong VAHS hoặc để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình.10] 8 luan an Quan điểm thứ tám dựa trên cơ sở BLTTHS năm 2015 hiện hành thì không chỉ có người bị tạm giữ, bị can, BC có quyền tự mình bào chữa và nhờ NBC mà còn mở rộng quyền cho cả người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt. Như vậy, khái niệm quyền bào chữa trong TTHS đã được hiểu rất khác nhau.
Tuy nhiên, nếu cho rằng quyền bào chữa chỉ thuộc về bị can, BC như quan điểm thứ nhất, thứ hai và thứ năm thì rất hẹp, không đảm bảo được đầy đủ quyền TBC và NBC cho người bị buộc tội trong thời gian họ bị bắt, bị tạm giữ. Nếu cho rằng quyền bào chữa còn thuộc về người bị tình nghi phạm tội, người bị kết án, người bị hại,. như quan điểm thứ ba, thứ tư thì rất rộng và không hợp lý, vì: Thứ nhất, nội dung của quyền bào chữa là quyền chứng minh sự vô tội hoặc phạm tội nhẹ hơn, do đó, quyền này chỉ thuộc về người bị buộc tội. Thứ hai, người bị hại, nguyên đơn dân sự… là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc vật chất, họ không bị Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng buộc tội, do đó, quyền bào chữa không thuộc về họ.
Họ chỉ có quyền khai báo những gì họ biết về hành vi phạm tội (buộc tội) và chứng minh những thiệt hại liên quan đế họ do hành vi phạm tội gây ra, vì vậy, quyền TBC và nhờ NBC luật TTHS không đặt ra đối với các chủ thể này. Thứ ba, người bị kết án là người đã được TA tuyên bố là có tội bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật. Tôi cho rằng, về cơ bản, quyền TBC và nhờ NBC thì luật TTHS cũng không đặt ra đối với người bị kết án, trừ trường hợp đặc biệt và chỉ trong trường hợp cần thiết khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là thủ tục đặc biệt, là thủ tục TA xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật chứ không phải là một cấp xét xử.
Tuy nhiên, để bảo đảm cho HĐXX ra quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm một cách đúng đắn, khoản 2 Điều 383 BLTTHS năm 2015 quy định “Trường hợp xét thấy cần thiết hoặc có căn cứ sửa một phần bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, TA phải triệu tập người bị kết án, NBC … tham gia phiên tòa giám đốc thẩm”. Như vậy, ở thủ tục đặc biệt này, quyền TBC 9 luan an và nhờ NBC của người bị kết án chỉ được đặt ra trong trường hợp cần thiết và nếu họ được TA triệu tập. Về nội dung của quyền TBC và nhờ NBC bao gồm cả việc bảo vệ các quyền và lợi ích khác của đối tượng hưởng quyền không trực tiếp liên quan tới việc bác bỏ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho họ trong vụ án theo quan điểm thứ hai, thứ sáu và thứ bảy là chưa phù hợp.