CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA 1. Quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa 1. Khái niệm về người bào chữa và quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa 1. Khái niệm người bào chữa NBC tham gia tố tụng để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ TNHS của người bị buộc tội, giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, đồng thời thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế XHCN.
Sự tham gia của NBC trong TTHS là một đòi hỏi tất yếu khách quan, tạo nên thế cân bằng trong TTHS 5, với tư cách là NTGTT, có vị trí độc lập với những NTHTT, sự hiện diện của họ trong các giai đoạn của quá trình tố tụng góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án, phòng ngừa, đấu tranh với những hành vi lạm quyền, tiêu cực có thể có từ phía các CQTHTT và NTHTT. Trong một nền tư pháp dân chủ, khi mà các giá trị quyền con người được tôn vinh và là đích đến của toàn bộ hệ thống tư pháp thì hoạt động bào chữa với sứ mệnh là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, bảo vệ công lý, công bằng xã hội được xem là một đại lượng để đánh giá uy tín và chất lượng của hoạt động pháp lý6. Theo quy định của BLTTHS năm 2015, NBC có thể là Luật sư; Người đại diện của người bị buộc tội; Bào chữa viên nhân dân và Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý7. Luật sư: là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật luật sư8 Người đại diện của người bị buộc tội: là một khái niệm tương đối mới chưa được đề cập nhiều trong khoa học pháp lý.
Tuy nhiên, nếu xét ở góc độ dân sự thì người đại diện là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự và có đủ điều kiện làm người đại diện theo quy định tại các Điều 134 (Đại diện), 135 (Căn cứ xác lập quyền đại diện) và 136 (Đại diện theo pháp luật của cá 5 Trần Văn Bảy (2000), Người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Tp. 6 Nguyễn Thành Công (2020), Quyền của người bào chữa theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Tp. 7 Xem khoản 2 Điều 72 BLTTHS năm 2015. 8 Xem Điều 10 Luật Luật sư năm 2006 được sửa đổi, bổ sung năm 2012.
7 nhân) của Bộ luật Dân sự năm 2015, khác với luật sư, người đại diện chủ động thực hiện chức năng bào chữa mà không cần có đề nghị hoặc yêu cầu từ người bị buộc tội hoặc họ cũng có thể chủ động lựa chọn NBC9. Bào chữa viên nhân dân: là NBC được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của mặt trận tổ quốc cử ra để bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức này10. Trong thực tế, hoạt động của bào chữa viên nhân dân cũng không được tổ chức thành một hệ thống nên chức danh này tuy vẫn được ghi nhận trong BLTTHS nhưng thực tế bào chữa viên nhân dân tham gia tố tụng rất hiếm hoi, vai trò của bào chữa viên nhân dân đang dần bị lãng quên và hiện nay khi nói đến NBC thì người ta thường nghĩ ngay đến luật sư11 Trợ giúp viên pháp lý: Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật12. Trợ giúp viên pháp lý là một trong những chủ thể tham gia TTHS bắt đầu ngay từ giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm đến khi kết thúc việc xét xử với tư cách là NBC13, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự14.
Hoạt động của trợ giúp viên pháp lý trong TTHS mang tính đặc thù bởi đây là chủ thể đại diện để thực thi trách nhiệm cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí của Nhà nước đối với nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội.15 Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về NBC: Theo Từ điển bách khoa toàn thư mở thì khái niệm “NBC hay bào chữa viên là thuật ngữ chỉ về những người có kiến thức pháp luật và kinh nghiệm hoạt động tố tụng thay mặt người bị buộc tội tham gia tố tụng trong VAHS để biện hộ, bảo vệ cho thân chủ của mình để chống lại sự buộc tội, truy tố hoặc tố cáo, giúp làm giảm TNHS cho thân chủ của họ đồng thời cũng có thể giúp cơ quan có chức năng làm sáng tỏ các tình tiết vụ án, họ có quyền tranh tụng với các chủ thể khác trong quá trình xử lý VAHS”16. 9 Nguyễn Thành Công, tlđd (chú thích số 6), tr. 10 Khoản 3 Điều 72 BLTTHS năm 2015. 11 Nguyễn Thành Công, tlđd (chú thích số 6), tr.
12 Điều 2 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017. 13 Xem Điều 72 BLTTHS năm 2015. 14 Xem Điều 83 và Điều 84 BLTTHS năm 2015. 15 Nhóm người được trợ giúp pháp lý được quy định tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.
16 Xem https://vi.org/wiki/trang_chính/Người_bào_chữa. 8 Trường Đại học Luật Hà Nội thì khái niệm “NBC là NTGTT với trách nhiệm bảo vệ lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, họ được phép sử dụng mọi phương tiện do luật định để bào chữa cho bị can, bị cáo về mặt pháp lý để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ”17. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thì khái niệm NBC theo quy định tại khoản 1 Điều 72 BLTTHS năm 2015 theo đó “NBC là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền THTT chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền THTT tiếp nhận việc đăng ký bào chữa”18. Võ Khánh Vinh thì “NBC là NTGTT với mục đích làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án nhằm chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ TNHS của người bị tạm giam, bị can, bị cáo và giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lý cần thiết”19.
Nguyễn Mạnh Hùng giải thích thuật ngữ pháp lý “NBC là người được bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo mời hoặc do VKS , Toà án chỉ định để bào chữa và có những giúp đỡ cần thiết cho bị can, bị cáo về mặt pháp lý”20. Từ các quan điểm về NBC của các học giả, tác giả nhận thấy có điểm chung đó là NBC chỉ là NTGTT. Thuật ngữ “tham gia” nói lên tính chất, vai trò của NBC, họ tham gia dù dưới hình thức nào (được mời hay được cử) thì vẫn nhằm mục đích chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ TNHS của người bị buộc tội và giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ đồng thời góp phần bảo vệ pháp chế XHCN, NBC chỉ thực hiện nghĩa vụ của mình trong hoạt động tố tụng, họ không có quyền và lợi ích liên quan trong vụ án21. Từ những nhận định, phân tích về NBC cũng như quy định của BLTTHS năm 2015, tác giả đưa ra khái niệm NBC trong TTHS như sau: “NBC là những người mà pháp luật quy định được làm NBC, được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền THTT chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền THTT tiếp nhận việc đăng ký bào chữa tham gia tố tụng để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ TNHS của người bị buộc tội và giúp đỡ cần thiết cho người bị buộc tội về mặt pháp lý đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ”.
17 Trường Đại học Luật Hà Nội (2002), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an Nhân dân, tr. 18 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam (tái bản có sửa đổi, bổ sung), Nxb Hồng Đức. 19 Võ Khánh Vinh (2004), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự, Nxb Công an Nhân dân, tr. 20 Nguyễn Mạnh Hùng (2006), Thuật ngữ pháp lý – tập II, Nxb Chính trị Quốc gia, tr.
21 Nguyễn Thành Công, tlđd (chú thích số 6), tr. Khái niệm quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa - Khái niệm quyền của người bào chữa Trong QHXH, giữa các chủ thể tham gia cũng hình thành quyền và nghĩa vụ, mặc dù không cụ thể, rõ ràng. Việc các chủ thể trong QHXH thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào nhận thức, điều kiện và môi trường sống của họ. Khác với QHXH, khi tham gia vào QHPL, chủ thể phải đáp ứng những điều kiện theo quy định của pháp luật nên các quyền và nghĩa vụ đều mang tính pháp lý dù các quyền, nghĩa vụ được các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với pháp luật.
Việc các quyền và nghĩa vụ trong QHPL được xác định cụ thể, rõ ràng trên cơ sở pháp luật sẽ tránh được sự tùy tiện, lạm dụng quyền hoặc bỏ mặc nghĩa vụ, nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên tham gia QHPL và tăng cường khả năng giám sát của nhà nước đối với xã hội22. Các quyền và nghĩa vụ pháp lý chính là nội dung của QHPL, vì vậy, đặc điểm này giúp ta phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa QHPL và các QHXH khác23. Bằng xử sự thực tế, các bên tham gia QHPL đã hiện thực hóa các xử sự mà quy phạm pháp luật đã nêu nhưng phải phù hợp với các quyền và nghĩa vụ pháp lý mà pháp luật đã quy định. Trong đó, quyền của chủ thể là một phạm trù pháp lý có giới hạn, trong một QHPL, chủ thể có thể tự mình hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện quyền.
Việc thực hiện quyền luôn mang lại cho chủ thể những lợi ích vật chất hoặc tinh thần nhất định24. Khi tham gia vào QHPL TTHS, những NTHTT và NTGTT có các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định.