Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của thực hiện pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất. Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về thực hiện pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất tại tỉnh Bình Phước. 6 Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện thực hiện pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất tại tỉnh Bình Phước. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƢỜNG CHO NGƢỜI SỬ DỤNG ĐẤT KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT 1.
Tổng quan về bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất 1.1 Khái niệm thu hồi đất Thuật ngữ thu hồi đất được sử dụng từ khi Việt Nam xác lập chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai và cụ thể được sử dụng trong Luật Đất đai 1987 đến giai đoạn hiện nay trước đó thì trong Luật cải cách ruộng đất 1953 chưa xuất hiện thuật ngữ thu hồi đất mà chỉ dừng lại ở các thuật ngữ tịch thu, trung thu, trưng mua. Mặc dù thuật ngữ thu hồi đất được quy định trong các văn bản Luật Đất đai 1987, 1993, 2003, 2013 nhưng khái niệm thu hồi đất lần đầu tiền được quy định trong Luật Đất đai 2003 (Khoản 5 Điều 4 Luật Đất đai 2003). Khái niệm thu hồi đất được tiếp tục khẳng định lại ở Luật Đất đai 2013, nhưng có phần khác so với Luật Đất đai 2003, cụ thể tại Khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”. Với quy định về thu hồi đất trong Luật Đất đai 2013 thì đối tượng trong thu hồi đất ở đây bao gồm quyền sử dụng đất và đất.
Trong đó, Nhà nước thu hồi lại quyền sử dụng đất trong trường hợp chủ thể này đang sử dụng đất hợp pháp và khi rơi vào các trường hợp luật định Nhà nước sẽ ra quyết định thu hồi lại đất. Còn đối với đối tượng thu hồi là đất ở đây là trong trường hợp chủ thể này không có quyền sử dụng đất mà do sử dụng đất do vi phạm pháp luật. Từ cơ sở lý luận trên thì vấn đề đặt ra khi nhà nước thu hồi lại “đất” thì nếu chiếu theo khái niệm được quy định trong Luật Đất đai 2013 hiện hành thì chỉ dừng lại ở việc thu hồi lại đất do người sử dụng vi phạm pháp luật đất đai còn đối với các trường hợp đất mà nhà nước đã giao những chủ thể khác quản lý theo quy định của pháp luật thì có thuộc phạm vi thu hồi theo khái niệm không. Mặc dù trong khái niệm thu hồi đất theo Luật Đất đai 8 2013 chỉ dừng ở thu hồi lại “đất” do người sử dụng vi phạm pháp luật đất đai nhưng theo quy định của pháp luật hiện nay vẫn có những trường hợp nhà nước thu hồi lại đất đã giao cho chủ thể khác quản lý, cụ thể tại Điểm b Khoản 1 điều 66 Luật Đất đai 2013 có quy định về thẩm quyền thu hồi đất trong đó quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã phường thị trấn, hay trong trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 82 Luật Đất đai 2013 có quy định trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất đối với đất được Nhà nước giao để quản lý.
Như vậy, có thể thấy những loại đất mà Nhà nước đã giao để quản lý trong trường hợp này là hợp pháp không phải do vi phạm pháp luật. Do đó, khái niệm thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai 2013 hiện hành là chưa đầy đủ và từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm thu hồi đất như sau: “ Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định thu hồi lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất được nhà nước giao để quản lý, của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”. Tác động của người sử dụng đất khi bị Nhà nước thu hồi đất Quyền sử dụng đất là một trong những loại tài sản quan trọng của người sử dụng đất. Pháp luật đất đai cho phép người sử dụng đất được quyền định đoạt đối với quyển sử dụng đất của mình.
Nếu việc chuyển quyền sử dụng đất hoàn toàn dựa trên ý chí tự nguyện của người sử dụng đất làm chấm dứt đi quyền sử dụng đất của chính mình thì việc nhà nước thu hồi đất cũng là cơ chế chấm dứt quyền của người sử dụng đất nhưng không phụ thuộc vào ý chí của người sử dụng đất. Do đó, với việc chấm dứt đi quyền sử dụng đất không phụ thuộc vào ý chí của chính mình thì tâm lý của người sử dụng đất thường xuất phát theo hướng tích cực (đồng ý với việc thu hồi đất) hoặc tiêu cực (không đồng ý với việc thu hồi đất), cụ thể: Thứ nhất, hướng tích cực người sử dụng đất đồng ý với việc thu hồi đất, theo hướng này thì người sử dụng đất nhận thức được đầy đủ ý nghĩa của việc thu hồi đất. Bên cạnh đó, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của nhà nước đảm bảo cho những thiệt hại của người sử dụng đất bị thu hồi. Một hướng đồng tình với việc 9 thu hồi đất nữa là người sử dụng đất được hưởng lợi từ chính việc nhà nước thu hồi đất nên họ sẵn sàng chấp nhận việc thu hồi đất mặc dù chính sách bồi thường họ cảm thấy chưa thỏa đáng.
Như vậy, người sử dụng đất đồng tình với việc thu hồi đất theo hướng này do họ hài lòng với chính sách bồi thường của nhà nước hoặc vì được hưởng lợi từ việc nhà nước thu đất. Thứ hai, hướng tiêu cực người sử dụng đất không đồng ý với việc thu hồi đất. Tác động từ người sử dụng đất theo hướng này xuất phát từ việc chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc nhà nước thu hồi đất. Người sử dụng đất không muốn cuộc sống hiện tại bị thay đổi hoặc kế sinh nhai bị ảnh hưởng sau khi nhà nước thu hồi đất hoặc không đồng ý với chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dẫn đến việc người sử dụng đất không chịu nhận bồi thường thường và không chịu bàn giao đất cho nhà nước ảnh hướng đến tiến độ thu hồi đất.
Chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Trải qua từng thời kì mà quyền của người sử dụng đất bị thu hồi ngày càng được quan tâm nhưng trước khi Hiến pháp 2013 ra đời thì chính sách bồi thường cho người sử dụng đất bị thu hồi đã được ghi nhận nhưng chỉ dừng lại trong văn bản luật và các văn bản dưới luật mà chưa được ghi nhận trong Hiến pháp trong khi đó việc thu hồi đất sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyền của những người sử dụng đất bị thu hồi. Xuất phát từ tầm quan trọng đó cũng như nước ta đang ra sức xây dựng một Nhà nước Pháp quyền thì vấn đề quyền con người càng được quan tâm. Chính vì thế, lần đầu tiên chính sách bồi thường cho người sử dụng đất bị thu hồi được ghi nhận trong Hiến pháp (Điều 54 Hiến pháp 2013) điều này thể hiện được sự quan tâm của nhà nước về bồi thường cho người sử dụng đất được đề cao cũng như sự quan tâm của Nhà nước trong việc tạo cơ sở để xây dựng các chính sách bồi thường cụ thể của người sử dụng đất bị thu hồi trong các văn bản quy phạm pháp luật khác. Theo quy định pháp luật hiện hành thì chính sách bồi thường cho người sử dụng đất bị thu hồi bên cạnh được ghi nhận trong Hiến pháp 2013 còn được cụ thể hóa trong Luật Đất đai 2013 và các văn bản dưới luật như: Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai 10 2013; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định 84/2013/NĐ-CP ngày 25/7/2013 của Chính phủ quy định về phát triển và quản lý Nhà ở tái định cư; Thông tư số 07/2014/TT-BXD ngày 20/5/2014 của Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung của Nghị định số 84/2013/NĐ-CP ngày 25/7/2013 của Chính phủ quy định về phát triển và quản lý nhà ở tái định cư; Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định 01/2017/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai.
Bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật ở cấp Trung ương thì quyền của người sử dụng đất còn được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương ban hành. Người sử dụng đất bị thu hồi hiện nay theo quy định pháp luật đất đai hiện hành được hưởng chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định, cụ thể: Thứ nhất, được bồi thường về đất Khi Nhà nước thu hồi đất thì người sử dụng đất được nhà nước bồi thường theo quy định của pháp luật trong đó đảm bảo được những nguyên tắc: + Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai 2013 thì được bồi thường; Theo quy định pháp luật hiện hành người sử dụng đất bị thu hồi sẽ được bồi thường về đất nếu đủ điều kiện được bồi thường quy định trong đó phải thỏa mãn điều kiện cơ bản sau: Người có đất bị thu hồi phải là người sử dụng đất hợp pháp, tùy thuộc vào từng giai đoạn khác nhau mà việc xác định người sử dụng đất hợp pháp theo Luật đất đai ở từng giai đoạn và trong đó người sử dụng đất hợp pháp phải là người được phép sử dụng đất dưới những hình thức nhất định theo quy định của pháp luật đất đai.