CHƯƠNG I: Như vậy, chương này đã trình bày những khái niệm cơ bản về hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường Internet, khái niệm và hoạt động của ISP và mối liên hệ giữa các ISP và hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan. Những nội dung này cần phải được xác định rõ ràng và nguyên tắc hóa để trở thành cơ sở cho những nghiên cứu ở chương II về vấn đề áp dụng trách nhiệm đối với các ISP khi hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ diễn ra. Người viết cũng đã trình bày một số khía cạnh còn thiếu sót của hệ thống lý luận về vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý tại Việt Nam, qua đó đặt ra yêu cầu học tập và sửa đổi bổ sung một cách linh hoạt các kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài vào thực tiễn pháp lý Việt Nam. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ INTERNET TRONG BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN Trong chương này, người viết tập trung phân tích quy định pháp luật và thực tiễn xét xử của tòa án một số nước phát triển.
Nội dung phân tích sẽ đặc biệt chú trọng vào các kinh nghiệm của pháp luật Hoa Kỳ, bởi Hoa Kỳ là nơi khai sinh ra chế định trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ Internet trong bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan; sở hữu một hệ thống lý luận chặt chẽ và đồ sộ về vấn đề này. Ngoài ra, một số điểm nổi bật trong kinh nghiệm lập pháp và xét xử tại Liên minh Châu Âu cũng sẽ được trình bày. Do chế định trách nhiệm của ISP có xuất xứ từ các quốc gia này, việc nghiên cứu kinh nghiệm của họ trước khi đi vào phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam sẽ giúp cho người đọc có góc nhìn vấn đề từ gốc rễ, tạo cơ sở để việc đánh giá và rút ra kinh nghiệm cho pháp luật Việt Nam trở nên thuận lợi hơn. Trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ Internet trong bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan tại Hoa Kỳ 2.
Cơ sở áp dụng trách nhiệm đối với các ISP khi xảy ra hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan Hoa Kỳ, đầu tàu của nền kinh tế thế giới, cũng là nước có nền công nghiệp bản quyền hùng hậu nhất, với đội ngũ luật sư, thẩm phán có trình độ cao và quyền năng sáng tạo pháp luật, kỹ thuật lập pháp tốt cùng nhiều yếu tố khác đã làm cho quốc gia này trở thành nơi khai sinh của rất nhiều chế định pháp luật nói chung và pháp luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nói riêng. Trước tình trạng xâm phạm bản quyền trực tuyến gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành công nghiệp bản quyền, các tòa án Hoa Kỳ đã có nhiều sáng kiến áp dụng pháp luật, tạo được một hệ thống lý thuyết chung về bảo hộ bản quyền trên Internet. Chế định trách nhiệm của ISP đối với hành vi xâm phạm bản quyền là một trong những thành tựu đó. Từ những học thuyết của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, các tòa án Hoa Kỳ đã có sự áp dụng linh hoạt để xử lý các vụ việc xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường Internet.
Những án lệ về việc áp dụng hai dạng trách nhiệm gián tiếp đối với các hành vi xâm phạm quyền tác giả “không trực tuyến” (off-line) đã cung cấp những cơ sở để các thẩm phán và luật sư Hoa Kỳ đưa ra các phán quyết áp dụng trách nhiệm gián tiếp do xâm phạm quyền tác giả đối với các ISP, khi xảy ra những hành vi xâm phạm quyền tác giả “trực tuyến” (online). Trong pháp luật Hoa Kỳ, hành vi xâm phạm quyền tác giả là một dạng hành vi gây thiệt hại ngoài hợp đồng (Tort). Khi một hành vi gây thiệt hại ngoài hợp đồng diễn ra, ngoài trách nhiệm áp dụng cho các chủ thể trực tiếp gây thiệt hại (direct liability – trách nhiệm trực tiếp), hai dạng trách nhiệm pháp lý có thể phát sinh với các chủ thể khác là trách nhiệm thay thế (“vicarious liability”) và trách nhiệm bổ sung ( “contributory liability”). Để áp dụng dạng trách nhiệm thay thế, yếu tố lỗi của người liên quan không nhất thiết phải tồn tại.
Thay vào đó, việc áp dụng trách nhiệm này dựa trên lý luận về mối quan hệ của bị đơn đối với người gây thiệt hại trực tiếp. Một trong những căn cứ được sử dụng để xác định sự phát sinh trách nhiệm thay thế là quyền năng giám sát hoạt động của người bị áp dụng đối với người trực tiếp gây thiệt hại. Ví dụ tiêu biểu là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với thiệt hại do người làm công gây ra (respondeat supervisor), theo đó doanh nghiệp sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với những thiệt hại do người làm công gây ra trong phạm vi nhiệm vụ được giao. Ngoài ra, trách nhiệm thay thế còn được áp dụng đối với chủ sở hữu những nguồn nguy hiểm cao độ (phương tiện vận tải cơ giới đang hoạt động, thú dữ,…) và trách nhiệm của nhà sản xuất đối với sản phẩm bị lỗi và gây thiệt hại cho người tiêu dùng, những trách nhiệm phát sinh trong các trường hợp này được gọi chung là trách nhiệm nghiêm ngặt (Strict Liability).
Trách nhiệm nghiêm ngặt được áp dụng trong những trường hợp đặc biệt. Yếu tố lỗi không cần thiết khi xem xét áp dụng dạng trách nhiệm này. Nguyên đơn chỉ cần chứng minh đã có hành vi gây thiệt hại diễn ra và bị đơn thuộc trường hợp bị áp dụng trách nhiệm. Việc áp dụng trách nhiệm này nhằm 02 mục đích: Thứ nhất, việc họ sở hữu những vật hoặc tiến hành những công việc tiềm tàng khả năng gây thiệt hại có đã làm phát sinh một dạng chi phí mà xã hội phải gánh chịu nhằm khắc phục thiệt hại và vì thế việc buộc họ chịu trách nhiệm trong trường hợp thiệt hại xảy ra do chính bản chất của vật/công việc đó (mà không cần lỗi) được coi là một cách cân bằng lợi ích trong xã hội, nói cách khác, do những người này sở hữu hoặc điều khiển/giám sát những nguồn gây thiệt hại tiềm tàng do tự thân chúng, họ phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại cho chúng gây ra, kể cả trong trường hợp không có lỗi; thứ hai, việc áp dụng trách nhiệm đối với các chủ thể này đặt ra yêu cầu họ phải nâng cao ý thức kiểm tra, giám sát của mình, đồng thời làm giảm gánh nặng chứng minh cho bị đơn cũng như chi phí và thủ tục tố tụng.
Đối với các ISP, do hành vi xâm phạm bản quyền trên Internet đã trở nên quá mức phổ biến và dễ dàng, nó đã được coi là một “thiệt hại đi kèm” không thể tránh khỏi đối với hoạt động cung cấp dịch vụ Internet. Vì thế, các thẩm phán và luật sư Hoa Kỳ đã có sự áp dụng sáng tạo các điều kiện của học thuyết trách nhiệm nghiêm ngặt nhằm buộc các ISP phải chịu trách nhiệm đối với hành vi xâm phạm bản quyền mà họ có khả năng giám sát và được hưởng lợi từ chúng. Các khoản bồi thường mà ISP có thể phải gánh chịu do hành vi xâm phạm bản quyền được coi là một dạng chi phí khi kinh doanh của họ, đồng thời, các ISP sẽ phải nâng cao ý thức bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình, thay vì chỉ tập trung kinh doanh và thu lợi nhuận. Học thuyết về trách nhiệm bổ sung được áp dụng với những người giúp đỡ, hoặc xúi giục người khác thực hiện hành vi gây thiệt hại.
Sự tham gia gián tiếp của người này phải đủ rõ ràng và hiệu quả để thấy rằng nó đã góp phần làm nguyên nhân cho hành vi gây thiệt hại. Khác với chế định trách nhiệm thay thế, yếu tố lỗi của chủ thể gây thiệt hại gián tiếp cần được xác định rõ ràng. Người này phải giúp đỡ hoặc tạo điều kiện cho hành vi gây thiệt hại một cách có chủ đích, họ phải nhận ra rằng hành vi của người được mình giúp sức chính là một hành vi gây thiệt hại. Nhiều vụ án liên quan đến việc áp dụng trách nhiệm gián tiếp khi xảy ra hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan gián tiếp đã được xét xử.
Đối với trách nhiệm thay thế, một án lệ tiêu biểu của chế định này là vụ Fonovista, Inc. kiện Cherry Auction, Inc. Bị đơn điều hành một phiên chợ trong đó những người tham gia thuê chỗ bán hàng trong chợ đã bán các bản ghi âm là bản sao bất hợp pháp các tác phẩm của nguyên đơn. Tòa án đã áp dụng chế định trách nhiệm thay thế đối với bị đơn, dựa trên các lập luận: i.
Bị đơn, với tư cách là người điều hành chơ, có quyền và có khả năng giám sát và hủy bỏ việc buôn bán hàng hóa bất hợp pháp bất cứ lúc nào. Hành vi buôn bán các bản ghi âm bất hợp pháp tạo cho bị đơn sự gia tăng lợi nhuận, thông qua sự thu hút thêm nhiều người mua hàng, qua đó làm tăng thêm số tiền thu được từ phí vào chợ, phí gửi xe, … Tương tự như vậy, những người điều hành quán bar, show diễn ca nhạc, hoặc các chương trình khác có thuê biểu diễn các tác phẩm xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan cũng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với hành vi xâm phạm quyền mà mình có quyền điều hành và hưởng lợi trực tiếp từ chúng. Ví dụ, những người điều hành sàn nhảy phải chịu trách nhiệm do họ có khả năng giám sát và ngăn chặn việc chơi những bản nhạc xâm phạm tác quyền, cũng như nhận được lợi ích trực tiếp từ những khoản phí được trả bởi những người khách đến thưởng thức các tác phẩm bị xâm phạm này. Ngược lại, trong trường hợp một người cho một người khác thuê căn nhà của mình và hành vi xâm phạm quyền tác giả được tiến hành tại căn nhà thuê đó, thì kể cả khi hợp đồng có điều khoản cấm hành tiến hành các hành vi xâm phạm quyền tác giả, hoặc thậm chí cho phép người chủ có thể xâm nhập vào căn nhà thuê để kiểm tra việc tuân thủ hợp đồng, thì nhìn chung người này vẫn thiếu khả năng kiểm tra, giám sát hoạt động những người thuê nhà.
Hơn nữa, lợi tức do người chủ nhà thu được phần lớn là những khoản tiền đã ấn định từ trước và trả theo định kỳ, vì thế hành vi xâm phạm quyền tác giả của người thuê nhà trọ hoàn toàn không có ảnh hưởng đến lợi nhuận của người chủ từ việc thuê nhà.