Trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ internet trong bảo hộ quyền tác giả quyền liên quan

Tìm hiểu trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ internet (ISP) trong việc bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan. Quy định pháp luật & thực thi.

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp
47
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết và mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4. Phương pháp nghiên cứu

5. Kết cấu của khóa luận

6. Tình hình nghiên cứu trong nước

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ INTERNET TRONG VIỆC BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN

1.1. Khái quát chung về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số

1.1.1. Khái niệm bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan

1.2. Hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan và đặc điểm của hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường Internet

Tóm tắt

I. ISP và Bản Quyền Tổng Quan Tầm Quan Trọng trong Kỷ Nguyên Số

Trong kỷ nguyên số, việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là bản quyền, gặp nhiều thách thức do sự phát triển của công nghệ thông tin. Internet, với khả năng cung cấp và trao đổi thông tin vô hạn, đã trở thành môi trường lý tưởng cho hành vi xâm phạm bản quyền tác giả. Những hành vi này diễn ra với số lượng lớn, thời gian thực hiện ngắn và hầu như không thể xác định chủ thể trực tiếp xâm phạm, gây ra rất nhiều khó khăn cho các chủ thể quyền tác giả trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp. Nguy cơ lạc hậu của các quy định pháp luật quyền tác giả trước sự phát triển của khoa học công nghệ đòi hỏi các quốc gia phải nhanh chóng hành động. Vấn đề áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) trong bảo hộ bản quyền đã trở thành một trong những giải pháp hữu hiệu. Giải pháp này phục vụ công cuộc bảo vệ quyền tác giả, giúp các tác giả có được sự đền bù thỏa đáng và nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật bản quyền của các chủ thể kinh doanh trên môi trường mạng. Nhiều nước đã nghiên cứu, học tập để ban hành những văn bản pháp luật với những quy định tương tự để bổ sung vào hệ thống pháp bảo hộ quyền tác giả của mình. Tuy nhiên, tại Việt Nam, đây còn là một vấn đề mới, những cơ sở lý luận còn chưa đầy đủ, bản thân các văn bản cũng chứa đựng nhiều điểm chưa rõ ràng và hợp lý, dẫn tới khó khăn trong việc thực thi. Cần học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia đi trước để hoàn thiện nội dung của các văn bản pháp luật cũng như hỗ trợ việc thực thi áp dụng chế định trách nhiệm đối với các nhà cung cấp dịch vụ trung gian trong môi trường Internet. Các quy định pháp luật về vấn đề này không chỉ cần bảo đảm được khả năng nhận đền bù của các tác giả, mà còn phải tạo được hành lang hợp lý để việc kinh doanh dịch vụ Internet phát triển bền vững, góp phần thiết lập cơ chế cân bằng lợi ích giữa công chúng và các chủ sở hữu quyền tác giả.

1.1. Quyền Tác Giả Quyền Liên Quan Định Nghĩa và Nội Dung

Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Nội dung quyền tác giả gồm có hệ thống các quyền tinh thần (quyền nhân thân) và quyền kinh tế/tài sản, theo quy định của Công ước Berne 1886. Luật SHTT Việt Nam đã có những quy định tương thích với Công ước Berne, theo đó nội dung quyền tác giả bao gồm các quyền nhân thân được quy định tại Điều 19 và các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này. Các quyền nhân thân gồm có: Quyền đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng. Các quyền tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 20 Luật SHTT gồm: Quyền làm tác phẩm phái sinh; quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng; quyền sao chép tác phẩm; quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; và quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính. Quyền liên quan đến quyền tác giả được hiểu là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình và chương trình phát sóng.

1.2. ISP Là Gì Vai Trò Của ISP trong Mạng Internet

Hiểu một cách chung nhất, nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) là tất cả các chủ thể cung cấp cho người sử dụng khả năng kết nối và truy cập Internet. Các loại hình dịch vụ Internet rất đa dạng, như thư điện tử (email), cho thuê chỗ lưu trữ thông tin số (hosting service), lưu trữ tạm thời thông tin số (caching), dịch vụ tìm kiếm trực tuyến (searching),... Các ISP cung cấp cho người dùng Internet khả năng truyền đạt và phổ biến các dữ liệu cho toàn bộ cộng đồng. Theo Điều 7 Nghị định 97/2008/NĐ-CP Về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet (ISP) là doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo pháp luật Việt Nam để cung cấp dịch vụ Internet cho công cộng. Các loại hình dịch vụ được liệt kê trong văn bản này gồm có: - Dịch vụ truy nhập Internet; - Dịch vụ kết nối Internet; - Dịch vụ ứng dụng Internet trong viễn thông.

II. Thách Thức Bảo Vệ Bản Quyền Trực Tuyến Vi Phạm Hậu Quả

Việc bảo vệ bản quyền trở nên khó khăn hơn bao giờ hết do sự phát triển của Internet. Hành vi xâm phạm bản quyền có ảnh hưởng tiêu cực tới thị trường, tước đoạt lợi nhuận của các tác giả và các chủ thể kinh doanh sản phẩm văn hóa, dẫn tới mất đi sự khuyến khích, kích thích sự đầu tư thời gian, công sức, kinh nghiệm của toàn xã hội để tạo ra các tác phẩm mới. Hệ thống thuế của các chính phủ cũng bị ảnh hưởng nặng nề bởi nạn ăn cắp bản quyền. Xâm phạm bản quyền đã gây ra những tác động có hại đến từng yếu tố tạo nên hệ thống bản quyền, hậu quả là đe dọa làm vô hiệu, phủ nhận tiến trình phát triển bản sắc văn hóa dân tộc mà hệ thống bản quyền hướng tới. Đặc biệt, khi công nghệ thông tin – truyền thông phát triển mạnh, thể hiện rõ nhất ở sự hình thành mạng lưới Internet, thì hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan ngày càng diễn ra gay gắt. Về hình thức thực hiện, những hành vi phổ biến nhất dẫn tới xâm phạm quyền tác giả trong môi trường Internet bao gồm hành vi đưa tác phẩm lên mạng Internet (posting, uploading) hoặc làm cho chúng trở nên tiếp cận được đối với công chúng và hành vi tải xuống tác phẩm từ trên mạng (downloading). Các quyền sao chép tác phẩm và quyền phân phối, truyền đạt tác phẩm –là những quyền bị xâm phạm nghiêm trọng nhất. Một hiện tượng rất phổ biến hiện nay đó là chúng ta có thể dễ dàng đọc được một nhiều bài báo, phóng sự giống hệt nhau trên các trang thông tin điện tử khác nhau. Điều đáng chú ý là các trang web sao chép các bài báo, bản tin này không hề đề tên tác giả và trích dẫn nguồn.

2.1. Các Hình Thức Vi Phạm Bản Quyền Phổ Biến Trên Mạng

Về hình thức thực hiện, những hành vi phổ biến nhất dẫn tới xâm phạm quyền tác giả trong môi trường Internet bao gồm hành vi đưa tác phẩm lên mạng Internet (posting, uploading) hoặc làm cho chúng trở nên tiếp cận được đối với công chúng và hành vi tải xuống tác phẩm từ trên mạng (downloading). Các quyền sao chép tác phẩm và quyền phân phối, truyền đạt tác phẩm –là những quyền bị xâm phạm nghiêm trọng nhất. Một hiện tượng rất phổ biến hiện nay đó là chúng ta có thể dễ dàng đọc được một nhiều bài báo, phóng sự giống hệt nhau trên các trang thông tin điện tử khác nhau. Điều đáng chú ý là các trang web sao chép các bài báo, bản tin này không hề đề tên tác giả và trích dẫn nguồn.

2.2. Tác Động Tiêu Cực Của Vi Phạm Bản Quyền Đến Xã Hội

Hành vi xâm phạm bản quyền có ảnh hưởng tiêu cực tới thị trường, tước đoạt lợi nhuận của các tác giả và các chủ thể kinh doanh sản phẩm văn hóa, dẫn tới mất đi sự khuyến khích, kích thích sự đầu tư thời gian, công sức, kinh nghiệm của toàn xã hội để tạo ra các tác phẩm mới. Hệ thống thuế của các chính phủ cũng bị ảnh hưởng nặng nề bởi nạn ăn cắp bản quyền. Xâm phạm bản quyền đã gây ra những tác động có hại đến từng yếu tố tạo nên hệ thống bản quyền, hậu quả là đe dọa làm vô hiệu, phủ nhận tiến trình phát triển bản sắc văn hóa dân tộc mà hệ thống bản quyền hướng tới.

III. Trách Nhiệm Pháp Lý Của ISP Cách Tiếp Cận Của Thế Giới

Liên quan đến hành vi xâm phạm bản quyền trong môi trường Internet, có sự hiện diện của 03 chủ thể sau: - Người sử dụng dịch vụ Internet: Là những cá nhân trực tiếp thực hiện hành vi xâm phạm. Tuy nhiên, buộc họ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình không phải là một việc làm dễ dàng. - Nhà cung cấp dịch vụ Internet (Internet service provider - ISP): Bao gồm những chủ thể cung cấp dịch vụ trực tuyến, dịch vụ truy cập hoặc nhà vận hành hệ thống kỹ thuật phục vụ cho việc kết nối và sử dụng Internet. -Nhà phát triển và cung cấp phần mềm: Những phần mềm hỗ trợ đặc biệt như Internet download manager, Orbit downloader, Bit Torrent, … đã tạo cho người dùng Internet những điều kiện hết sức thuận lợi để xâm phạm quyền tác giả.

3.1. Trách Nhiệm Gián Tiếp và Trực Tiếp của ISP

Đối với trách nhiệm thay thế: i- Quyền năng điều chỉnh và giám sát của chủ thể liên quan đối với hành vi xâm phạm. Quyền năng điều chỉnh này phải tồn tại trên thực tế, không chỉ dựa vào quy định pháp luật hay lý thuyết thuần túy. ii- Lợi ích vật chất trực tiếp thu được từ hành vi xâm phạm. Lợi ích này phải có nguồn gốc trực tiếp từ hành vi xâm phạm, thể hiện ở khả năng thu hút người mua/sử dụng dịch vụ, khả năng tăng lượng hàng hóa bán ra,… nhờ hành vi xâm phạm. Đối với trách nhiệm bổ sung: i- Bị đơn đã biết hoặc không thể không biết về hành vi xâm phạm. ii- Bị đơn đã có hành vi xúi giục hoặc giúp đỡ về vật chất cho hành vi xâm phạm trực tiếp xảy ra.

3.2. DMCA Khu Vực An Toàn Cho ISP và Nghĩa Vụ Liên Quan

DMCA 512 ra đời không nhằm thống nhất việc xác định trách nhiệm của ISP một cách toàn diện mà chỉ cung cấp những điều kiện theo đó ISP sẽ được miễn trách nếu hành vi xâm phạm xảy ra và thủ tục thông báo hành vi xâm phạm cho các ISP, qua đó buộc họ phải hành động hợp lý để ngăn chặn hành vi đó, đồng thời DMCA 512 cũng quy định cả thủ tục phản đối cáo buộc xâm phạm mà các cá nhân sử dụng Internet có thể triển khai khi cho rằng hành vi của mình là hoàn toàn hợp pháp. Hai điều kiện chung gồm có: Thứ nhất, ISP phải ban hành và bảo đảm thực hiện chính sách theo đó những người tiếp tục có hành vi xâm phạm bản quyền sau khi đã bị cảnh báo (repeat infringers) sẽ được xác định rõ và có thể phải chịu chế tài, trong đó có khả năng bị hủy truy cập. Thứ hai, ISP chỉ cung cấp các yếu tố kỹ thuật nhằm phục vụ lưu truyền thông tin và không được can thiệp vào quá trình đó.

IV. Giải Pháp Công Nghệ Pháp Lý Chống Vi Phạm Bản Quyền

Để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng cần các giải pháp dứt khoát và thức thời, có thể khẳng định sẽ tạo được tác động rất lớn đến đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam. Ý thức của các chủ thể kinh doanh dịch vụ trên mạng chắc chắn sẽ phải được nâng cao lên rất nhiều và kéo theo đó là sự thay đổi lớn trong tâm lý người sử dụng dịch vụ Internet Việt Nam. Các tác giả sẽ có được các khoản bồi thường thỏa đáng nhất, qua đó tạo thêm động lực sáng tạo cho họ, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Cho tới nay ở Việt Nam chưa có một ISP nào bị xử lý, điều đó có nhiều lý do đến từ các nguyên nhân của văn bản pháp luật và trình độ chuyên môn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng có lẽ lí do quan trọng nhất dẫn đến tình trạng này đó là nhận thức của đại bộ phận người dùng Internet, của cả các ISP lẫn các chủ thể quyền tác giả.

4.1. Công Cụ Phát Hiện Ngăn Chặn Vi Phạm Bản Quyền Tự Động

Các công cụ kỹ thuật như Content ID (YouTube), hệ thống lọc nội dung, và các giải pháp DRM (Digital Rights Management) có thể được sử dụng để phát hiện và ngăn chặn vi phạm bản quyền tự động. Điều này đòi hỏi sự hợp tác giữa các chủ sở hữu bản quyền và các ISP để triển khai các công cụ này một cách hiệu quả. Việc áp dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI) và học máy (Machine Learning) cũng có thể giúp cải thiện khả năng phát hiện và ngăn chặn vi phạm bản quyền.

4.2. Vai Trò Của Luật Pháp Trong Việc Bảo Vệ Bản Quyền Số

Hệ thống pháp luật cần được hoàn thiện để bảo vệ quyền của các chủ sở hữu bản quyền trên môi trường số. Điều này bao gồm việc cập nhật các quy định về trách nhiệm pháp lý của các ISP, thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, và tăng cường thực thi pháp luật để xử lý các hành vi vi phạm. Các quy định cần phải rõ ràng, minh bạch, và dễ thực thi để đảm bảo sự công bằng và hiệu quả.

V. Pháp Luật Việt Nam về ISP Bản Quyền Đánh Giá Cải Thiện

Các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan là một dạng hành vi gây thiệt hại ngoài hợp đồng. Do đó, các quy định của pháp luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ đóng vai trò nền tảng cho việc xác định và áp dụng trách nhiệm đối với các ISP trong bảo hộ bản quyền. Các quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm của ISP đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đã tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, một số hạn chế về mặt nội dung của quy phạm pháp luật vẫn còn tồn tại, hơn nữa, để các quy phạm này đi vào cuộc sống còn phụ thuộc rất lớn vào các cơ quan có thẩm quyền như Tòa án, Thanh tra Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch; Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch cũng như ý thức của các chủ thể quyền tác giả và các ISP. Việc học tập các kinh nghiệm lập pháp và áp dụng pháp luật của các quốc gia phát triển là hết sức cần thiết.

5.1. Ưu Điểm và Hạn Chế của Luật Bản Quyền Hiện Hành

Các văn bản pháp luật về cơ bản đã tạo được một khung pháp lý khá đầy đủ về vấn đề trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ Internet trong vi phạm pháp luật trên môi trường Internet nói chung và đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trực tuyến nói riêng. Các quy định về “vùng an toàn” đã được xây dựng. Tuy nhiên, về trách nhiệm của các ISP đối với các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, mặc dù việc các ISP phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi này thì đã rõ, nhưng dạng trách nhiệm nào sẽ được áp dụng? Trách nhiệm dân sự hay trách nhiêm hành chính? Đối với trách nhiệm dân sự, việc áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu quyền tác giả đối với các ISP không phải là không đủ căn cứ, nhưng rất khó và nếu có áp dụng thành công cũng không hợp lý.

5.2. Đề Xuất Sửa Đổi và Bổ Sung Luật Bản Quyền Việt Nam

Cần xây dựng lại khái niệm của một số thuật ngữ pháp lý cơ bản, như “trách nhiệm pháp lý”, “vi phạm pháp luật”, qua đó giúp cho việc áp dụng pháp luật trở nên dễ dàng hơn và có cơ sở đầy đủ. Tình trạng thiếu vắng các cơ sở lý luận của khoa học pháp lý là một trong những lý do dẫn tới sự khó khăn trong việc học tập và nghiên cứu luật học tại Việt Nam và là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng các văn bản pháp luật được ban hành có những quy định chồng chéo. Cần có sự sửa đổi các quy định về “vùng an toàn” đối với hoạt động của các ISP, theo đó cần bổ sung nghĩa vụ ngăn chặn nội dung xâm phạm phát tán vào các tiêu chuẩn được miễn trách của các ISP. Hạn chế sự can thiệp quá mức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc yêu cầu các ISP phải thực hiện các biện pháp hợp lý ngăn chặn sự phát tán của thông tin xâm phạm.

VI. Tương Lai Của Bản Quyền Số Hợp Tác Giáo Dục Thực Thi

Việc bảo vệ bản quyền trong kỷ nguyên số đòi hỏi sự hợp tác giữa các bên liên quan, bao gồm các chủ sở hữu bản quyền, các ISP, người dùng Internet, và các cơ quan nhà nước. Giáo dục và nâng cao nhận thức về bản quyền cũng là một yếu tố quan trọng để giảm thiểu vi phạm. Ngoài ra, cần tăng cường thực thi pháp luật để xử lý các hành vi vi phạm một cách hiệu quả. Chỉ khi có sự kết hợp của các yếu tố này, chúng ta mới có thể tạo ra một môi trường số an toàn và bền vững cho sự sáng tạo và phát triển.

6.1. Tăng Cường Hợp Tác Giữa ISP Chủ Sở Hữu Người Dùng

Cần xây dựng cơ chế hợp tác hiệu quả giữa các ISP, chủ sở hữu bản quyền, và người dùng Internet. Điều này có thể bao gồm việc chia sẻ thông tin, phát triển các công cụ phát hiện vi phạm bản quyền, và tổ chức các hoạt động giáo dục và nâng cao nhận thức. Sự hợp tác này sẽ giúp tạo ra một môi trường số an toàn và bền vững cho tất cả các bên liên quan.

6.2. Giáo Dục Nâng Cao Nhận Thức Về Giá Trị Bản Quyền

Giáo dục và nâng cao nhận thức về giá trị của bản quyền là một yếu tố quan trọng để giảm thiểu vi phạm. Các hoạt động giáo dục cần được thực hiện ở các cấp độ khác nhau, từ trường học đến cộng đồng, để giúp mọi người hiểu rõ hơn về quyền tác giả và trách nhiệm của mình. Sự hiểu biết và tôn trọng bản quyền sẽ góp phần tạo ra một môi trường số văn minh và phát triển.

20/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: Như vậy, chương này đã trình bày những khái niệm cơ bản về hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường Internet, khái niệm và hoạt động của ISP và mối liên hệ giữa các ISP và hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan. Những nội dung này cần phải được xác định rõ ràng và nguyên tắc hóa để trở thành cơ sở cho những nghiên cứu ở chương II về vấn đề áp dụng trách nhiệm đối với các ISP khi hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ diễn ra. Người viết cũng đã trình bày một số khía cạnh còn thiếu sót của hệ thống lý luận về vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý tại Việt Nam, qua đó đặt ra yêu cầu học tập và sửa đổi bổ sung một cách linh hoạt các kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài vào thực tiễn pháp lý Việt Nam. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ INTERNET TRONG BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN Trong chương này, người viết tập trung phân tích quy định pháp luật và thực tiễn xét xử của tòa án một số nước phát triển.

Nội dung phân tích sẽ đặc biệt chú trọng vào các kinh nghiệm của pháp luật Hoa Kỳ, bởi Hoa Kỳ là nơi khai sinh ra chế định trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ Internet trong bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan; sở hữu một hệ thống lý luận chặt chẽ và đồ sộ về vấn đề này. Ngoài ra, một số điểm nổi bật trong kinh nghiệm lập pháp và xét xử tại Liên minh Châu Âu cũng sẽ được trình bày. Do chế định trách nhiệm của ISP có xuất xứ từ các quốc gia này, việc nghiên cứu kinh nghiệm của họ trước khi đi vào phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam sẽ giúp cho người đọc có góc nhìn vấn đề từ gốc rễ, tạo cơ sở để việc đánh giá và rút ra kinh nghiệm cho pháp luật Việt Nam trở nên thuận lợi hơn. Trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ Internet trong bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan tại Hoa Kỳ 2.

Cơ sở áp dụng trách nhiệm đối với các ISP khi xảy ra hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan Hoa Kỳ, đầu tàu của nền kinh tế thế giới, cũng là nước có nền công nghiệp bản quyền hùng hậu nhất, với đội ngũ luật sư, thẩm phán có trình độ cao và quyền năng sáng tạo pháp luật, kỹ thuật lập pháp tốt cùng nhiều yếu tố khác đã làm cho quốc gia này trở thành nơi khai sinh của rất nhiều chế định pháp luật nói chung và pháp luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nói riêng. Trước tình trạng xâm phạm bản quyền trực tuyến gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành công nghiệp bản quyền, các tòa án Hoa Kỳ đã có nhiều sáng kiến áp dụng pháp luật, tạo được một hệ thống lý thuyết chung về bảo hộ bản quyền trên Internet. Chế định trách nhiệm của ISP đối với hành vi xâm phạm bản quyền là một trong những thành tựu đó. Từ những học thuyết của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, các tòa án Hoa Kỳ đã có sự áp dụng linh hoạt để xử lý các vụ việc xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường Internet.

Những án lệ về việc áp dụng hai dạng trách nhiệm gián tiếp đối với các hành vi xâm phạm quyền tác giả “không trực tuyến” (off-line) đã cung cấp những cơ sở để các thẩm phán và luật sư Hoa Kỳ đưa ra các phán quyết áp dụng trách nhiệm gián tiếp do xâm phạm quyền tác giả đối với các ISP, khi xảy ra những hành vi xâm phạm quyền tác giả “trực tuyến” (online). Trong pháp luật Hoa Kỳ, hành vi xâm phạm quyền tác giả là một dạng hành vi gây thiệt hại ngoài hợp đồng (Tort). Khi một hành vi gây thiệt hại ngoài hợp đồng diễn ra, ngoài trách nhiệm áp dụng cho các chủ thể trực tiếp gây thiệt hại (direct liability – trách nhiệm trực tiếp), hai dạng trách nhiệm pháp lý có thể phát sinh với các chủ thể khác là trách nhiệm thay thế (“vicarious liability”) và trách nhiệm bổ sung ( “contributory liability”). Để áp dụng dạng trách nhiệm thay thế, yếu tố lỗi của người liên quan không nhất thiết phải tồn tại.

Thay vào đó, việc áp dụng trách nhiệm này dựa trên lý luận về mối quan hệ của bị đơn đối với người gây thiệt hại trực tiếp. Một trong những căn cứ được sử dụng để xác định sự phát sinh trách nhiệm thay thế là quyền năng giám sát hoạt động của người bị áp dụng đối với người trực tiếp gây thiệt hại. Ví dụ tiêu biểu là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với thiệt hại do người làm công gây ra (respondeat supervisor), theo đó doanh nghiệp sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với những thiệt hại do người làm công gây ra trong phạm vi nhiệm vụ được giao. Ngoài ra, trách nhiệm thay thế còn được áp dụng đối với chủ sở hữu những nguồn nguy hiểm cao độ (phương tiện vận tải cơ giới đang hoạt động, thú dữ,…) và trách nhiệm của nhà sản xuất đối với sản phẩm bị lỗi và gây thiệt hại cho người tiêu dùng, những trách nhiệm phát sinh trong các trường hợp này được gọi chung là trách nhiệm nghiêm ngặt (Strict Liability).

Trách nhiệm nghiêm ngặt được áp dụng trong những trường hợp đặc biệt. Yếu tố lỗi không cần thiết khi xem xét áp dụng dạng trách nhiệm này. Nguyên đơn chỉ cần chứng minh đã có hành vi gây thiệt hại diễn ra và bị đơn thuộc trường hợp bị áp dụng trách nhiệm. Việc áp dụng trách nhiệm này nhằm 02 mục đích: Thứ nhất, việc họ sở hữu những vật hoặc tiến hành những công việc tiềm tàng khả năng gây thiệt hại có đã làm phát sinh một dạng chi phí mà xã hội phải gánh chịu nhằm khắc phục thiệt hại và vì thế việc buộc họ chịu trách nhiệm trong trường hợp thiệt hại xảy ra do chính bản chất của vật/công việc đó (mà không cần lỗi) được coi là một cách cân bằng lợi ích trong xã hội, nói cách khác, do những người này sở hữu hoặc điều khiển/giám sát những nguồn gây thiệt hại tiềm tàng do tự thân chúng, họ phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại cho chúng gây ra, kể cả trong trường hợp không có lỗi; thứ hai, việc áp dụng trách nhiệm đối với các chủ thể này đặt ra yêu cầu họ phải nâng cao ý thức kiểm tra, giám sát của mình, đồng thời làm giảm gánh nặng chứng minh cho bị đơn cũng như chi phí và thủ tục tố tụng.

Đối với các ISP, do hành vi xâm phạm bản quyền trên Internet đã trở nên quá mức phổ biến và dễ dàng, nó đã được coi là một “thiệt hại đi kèm” không thể tránh khỏi đối với hoạt động cung cấp dịch vụ Internet. Vì thế, các thẩm phán và luật sư Hoa Kỳ đã có sự áp dụng sáng tạo các điều kiện của học thuyết trách nhiệm nghiêm ngặt nhằm buộc các ISP phải chịu trách nhiệm đối với hành vi xâm phạm bản quyền mà họ có khả năng giám sát và được hưởng lợi từ chúng. Các khoản bồi thường mà ISP có thể phải gánh chịu do hành vi xâm phạm bản quyền được coi là một dạng chi phí khi kinh doanh của họ, đồng thời, các ISP sẽ phải nâng cao ý thức bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình, thay vì chỉ tập trung kinh doanh và thu lợi nhuận. Học thuyết về trách nhiệm bổ sung được áp dụng với những người giúp đỡ, hoặc xúi giục người khác thực hiện hành vi gây thiệt hại.

Sự tham gia gián tiếp của người này phải đủ rõ ràng và hiệu quả để thấy rằng nó đã góp phần làm nguyên nhân cho hành vi gây thiệt hại. Khác với chế định trách nhiệm thay thế, yếu tố lỗi của chủ thể gây thiệt hại gián tiếp cần được xác định rõ ràng. Người này phải giúp đỡ hoặc tạo điều kiện cho hành vi gây thiệt hại một cách có chủ đích, họ phải nhận ra rằng hành vi của người được mình giúp sức chính là một hành vi gây thiệt hại. Nhiều vụ án liên quan đến việc áp dụng trách nhiệm gián tiếp khi xảy ra hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan gián tiếp đã được xét xử.

Đối với trách nhiệm thay thế, một án lệ tiêu biểu của chế định này là vụ Fonovista, Inc. kiện Cherry Auction, Inc. Bị đơn điều hành một phiên chợ trong đó những người tham gia thuê chỗ bán hàng trong chợ đã bán các bản ghi âm là bản sao bất hợp pháp các tác phẩm của nguyên đơn. Tòa án đã áp dụng chế định trách nhiệm thay thế đối với bị đơn, dựa trên các lập luận: i.

Bị đơn, với tư cách là người điều hành chơ, có quyền và có khả năng giám sát và hủy bỏ việc buôn bán hàng hóa bất hợp pháp bất cứ lúc nào. Hành vi buôn bán các bản ghi âm bất hợp pháp tạo cho bị đơn sự gia tăng lợi nhuận, thông qua sự thu hút thêm nhiều người mua hàng, qua đó làm tăng thêm số tiền thu được từ phí vào chợ, phí gửi xe, … Tương tự như vậy, những người điều hành quán bar, show diễn ca nhạc, hoặc các chương trình khác có thuê biểu diễn các tác phẩm xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan cũng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với hành vi xâm phạm quyền mà mình có quyền điều hành và hưởng lợi trực tiếp từ chúng. Ví dụ, những người điều hành sàn nhảy phải chịu trách nhiệm do họ có khả năng giám sát và ngăn chặn việc chơi những bản nhạc xâm phạm tác quyền, cũng như nhận được lợi ích trực tiếp từ những khoản phí được trả bởi những người khách đến thưởng thức các tác phẩm bị xâm phạm này. Ngược lại, trong trường hợp một người cho một người khác thuê căn nhà của mình và hành vi xâm phạm quyền tác giả được tiến hành tại căn nhà thuê đó, thì kể cả khi hợp đồng có điều khoản cấm hành tiến hành các hành vi xâm phạm quyền tác giả, hoặc thậm chí cho phép người chủ có thể xâm nhập vào căn nhà thuê để kiểm tra việc tuân thủ hợp đồng, thì nhìn chung người này vẫn thiếu khả năng kiểm tra, giám sát hoạt động những người thuê nhà.

Hơn nữa, lợi tức do người chủ nhà thu được phần lớn là những khoản tiền đã ấn định từ trước và trả theo định kỳ, vì thế hành vi xâm phạm quyền tác giả của người thuê nhà trọ hoàn toàn không có ảnh hưởng đến lợi nhuận của người chủ từ việc thuê nhà.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ