CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE QUYEN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MAI QUOC TE 1. KHÁI QUAT CHUNG VE QUYEN SỞ HỮU TRÍ TUE 1. Khái niệm quyền SHTT Khái niệm “quyền SHTT” liên quan chặt chẽ đến khái niệm “tài sản trí tuệ” và SHTT. Khái niệm “Tài sdn tri tuệ” được sử dụng dé chỉ những tài sản là kết quả sang tao trí tué của con người tồn tại dưới dang phi vật chat, mang lai những lợi ích vật chất hoặc tinh thần cho người nam tài sản này.
Nhân loại đang bước sang một nền kinh tế mới - nền kinh tế chủ yếu dựa trên các kết quả đầu tư vào các lĩnh vực trí tuệ và khoa học công nghệ. Nếu như nền kinh tế truyền thống chủ yếu dựa vào nguồn lao động và tài nguyên thiên nhiên thì trong thời đại hiện nay, lý thuyết tăng trưởng kinh tế mới ra đời, thừa nhận tài sản trí tuệ là “động lực nội sinh cho tăng trưởng kinh tế”. Tri thức khoa học và thông tin đã và đang trở thành bộ phận cấu thành quan trọng hàng đầu của lực lượng sản xuất, đóng vai trò quyết định đối với nên sản xuất vật chất trên quy mô toàn cau, “tri thức trở thành một nguồn của cải tạo ra sự thịnh vượng”. ` Tài sản trí tuệ hay thông tin hàm chứa trong tài sản trí tuệ mang các đặc tính tương tự như các đặc tính của hàng hóa công cộng: (i) tính không cạnh tranh; và (ii) tính không loại trừ (mat đi) trong sử dụng.” Tinh không cạnh tranh được thé hiện ở việc một người sử dụng tài sản trí tuệ không hạn chế khả năng của người khác sử dụng chính tài sản trí tuệ đó.
Tinh không loại trừ thể hiện ở việc một bên thứ ba (khi không được phép) không bị ngăn cắm sử dụng tài sản trí tuệ nếu thông tin về tài sản trí tuệ đó đã được công bố. Ngoài ra, chi phí để sản xuất thêm một sản phẩm chứa đựng tài sản trí tuệ (chi phí biên: marginal cost - ví dụ như chi phí để sao chép thêm một tác phẩm) là rất nhỏ." * Kamil Idris, SHTT - Một công cụ dé phát triển kinh té, Tổ chức SHTT thế giới, tr 30 (bản dịch của Cục SHTT) > Xem P. Samuelson, ‘The Pure Theory of Public Expenditure’, 36(4) Rev. Stiglitz, ‘Economic Foundations of Intellectual Property Rights’, 57 Duke L.
Reichman, ‘The Globalization of Private Knowledge Goods and the Privatization of Global Public Goods’, trong K. Reichman (chủ biên), /nternational Public Goods and 16 Bin chat hàng hóa công cộng của tài sản trí tuệ được Thomas Jefferson miêu tả một :ách rất hình tượng. Đó là: “một người có thé độc quyền sở hữu một thông tin mia là người đó giữ nó chỉ cho riêng mình biết; nhưng khi thông tin đó được tiết lộ, 16 thuộc quyền sở hữu của nhiều người; người thứ ba nhận thông tin không làm bớ đi thông tin mà người cung cấp thông tin có, điều này tương tự như việc người tứ ba thắp một ngọn nến từ ngọn nến ban đầu, và người đó nhận được ánh sáng tungon nến của mình mà không làm tối đi ánh sáng của ngọn nến ban đầu”." Như vậy, tài sản trí tuệ dé dàng bị sao chép và sử dung với chi phí rất thấp (hay ktong đáng kể) bởi người thứ ba do bản chất hàng hóa công cộng của tài sản trí tuệ. Tuy nhiên việc tim, sáng tao ra tài sản trí tuệ (như sáng chế, tác phẩm văn học ngié thuật) cũng như việc thương mại hóa tài sản trí tuệ mat rất nhiều thời gian, cing sức, tiền bạc và có thé chứa đựng nhiều rủi ro.
Nếu không có một cơ chế bảo vệ tài sản trí tuệ hữu hiệu nhằm hạn chế bên thứ ba ngồi chờ hưởng lợi mà không ốn chi phí gì (free-riding), điêu này sẽ không khuyến khích người có khả năng plat minh-sáng tạo (innovation) ra tài sản trí tuệ đầu tư dé phat minh-sáng tao và thương mại hóa hay công bố tài sản trí tuệ đó. Do đó, dé có thé đạt được sự phân bổ tối ưu các nguồn lực cho sáng tạo cũng như để tạo động lực cho sự xuất hiện của các titr bộ về công nghệ, văn hóa, việc sao chép sớm các phát mỉnh-sáng tạo hay việc tưởng lợi các phát minh-sáng tạo của người khác mà không tra chi phí phải bi ngăn 24m. SHTT là việc sở hữu đối với tài sản trí tuệ. “Quyên SHTT” được sử dụng dé nhắn nạnh quyền của chủ thể sáng tạo và các chủ thể liên quan khác đối với tài sản trí tuệ được pháp luật ghi nhận và bảo hộ.
Tuy nhiên, trong nhiều tài liệu cũng như trong thực tế, hai thuật ngữ SHTT va “quyén SHTT” lại được sử dung với nghĩa như mau. Theo Tổ chức SHTT thé giới (WIPO) — Tỗ chức quản lý SHTT quan trọng nhất trên tạm vi toàn cầu, “SHTT được hiểu theo nghĩa rộng là các quyền hợp pháp xuất nhát từ hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học và Transfe of Technology under a Globalized Intellectual Property Regime, Cambridge University Press, 2005, t. } is ot nghệ thuật”. SHTT (Interlectual property) hay quyền SHTT được thé hiện dưới hai dạng chủ yếu là quyền SHCN (SHCN) (quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu.
Pháp luật điều chỉnh về quyền SHTT xuất hiện từ rất sớm (thế kỷ XV với quyén tác giả và cuối thé kỷ XVIII đối với quyền SHCN) và đã trải qua một quá trình phát triển dài lâu với những bước phát triển mới cùng với nền kinh tế- xã hội của thế giới. Trong tất cả các công ước quốc tế hay những văn kiện quan trọng về SHTT không đưa ra khái niệm về mặt nội dung đối với thuật ngữ SHTT (hay quyền SHTT) mà sử dụng phạm vi đối tượng điều chỉnh để đưa ra định nghĩa thuật ngữ này. Ở những văn bản pháp luật đầu tiên, chỉ có một số đối tượng quan trọng của quyền SHTT được điều chỉnh như sáng chế, nhãn hiệu và các tác phẩm nghệ thuật. Sự cần thiết phải mở rộng khái niệm quyền SHTT do hai nguyên nhân chính (i) một số đối tượng đã tồn tại nhưng chưa được liệt kê một cách hệ thống: (ii) một số đối tượng là kết quả của quá trình phát triển khoa học- công nghệ và kinh tế xã hội.
Vì thế thuật ngữ SHTT hiện nay điều chỉnh thêm một số đối tượng như: kiểu dáng công nghiệp, tên thương mại (trong công ước Paris), quyền liên quan đến quyên tác giả (trong Công ước Rome về quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất băng ghi âm ghi hình và tổ chức phát sóng 1961), quyền đối với giống cây trồng (trong Công udc quéc té vé bao hd giống cây trồng mới, được ký kết tại Paris vào năm 1961). Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền SHTT (TRIPS) là một nỗ lực thành công của các quốc gia trên thé giới về van dé bảo hộ quyền SHTT, trong đó thừa nhận và mở rộng những chuẩn mực bảo hộ quyền SHTT trong Công ước Paris và Công ước Berne. Như vậy, từ ba đối tượng đầu tiên là sáng chế, nhãn hiệu và tác phẩm nghệ thuật, hệ thống SHTT hiện đại đã có phạm vi điều chỉnh rộng lớn, bao quát hoạt động sáng tạo của nhân loại. Tại thời điểm hiện tại, ba nhánh cơ bản của quyền SHTT là quyền SHCN, quyền tác giả và quyền đối với giống cây trồng là những * WIPO, Introduction to Intellectual Property Theory and Practice, Kluwer Law International, London - The Hague, Boston, trang 3.
? Luật của nữ hoàng Anne (1470) và Luật sáng chê của Pháp năm 197] 18 đỗi tượng mang lại cho quyền SHTT vị trí đặc biệt trong sự phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia cũng như sự phát triển của nhân loại. Với mục đích sử dụng công cụ pháp lý để điều chỉnh bản chất hàng hóa công cộng của tai sản trí tuệ mà thị trường không thể tự điều chỉnh, nhà nước ban hành pháp luật để bảo vệ tài sản trí tuệ, theo đó người sáng tạo, đầu tư cho đối tượng SHTT được trao quyền SHTT. Đó chính là quyền ngăn chặn người khác sử dụng tài sản trí tuệ nhằm đảm bảo cho người nắm giữ quyền có thể thu được các lợi ích từ việc sử dụng độc quyên tài sản trí tuệ của mình. Tuy nhiên pháp luật về SHTT không chỉ có mục đích duy nhất là thúc đây lợi ích cá nhân của người sáng tạo, đầu tư.
Mục đích cuối cùng của pháp luật về SHTT là nhằm thúc day sự phát triển của khoa học và nghệ thuật thông qua việc đảm bảo cho người sáng tạo, đầu tư trong một khoảng thời gian và phạm vi nhất định (được giới hạn) có các quyền độc quyền đối với các hoạt động trí tuệ, sáng tạo của mình. Quy định pháp luật như vậy sẽ đem lại lợi ich cho công chúng thông qua việc thúc day xuất hiện các sản phẩm mới, được cải tiến và thúc đây phát triển kinh tế nói chung. 10 Theo nghĩa khách quan, quyền SHTT là tông hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sáng tạo, sử dụng, khai thác và định đoạt tài sản trí tuệ. Theo nghĩa chủ quan, quyền SHTT là quyền của tổ chức, cá nhân đối với những tài sản trí tuệ do con người sáng tạo.
Đó là độc quyền được trao cho một người, một nhóm người hoặc một tổ chức dé khai thác, sử dụng, định đoạt những sản phẩm của hoạt động sáng tạo trí tuệ. Đặc điểm của quyền SHTT Thứ nhất, quyên SHTT là quyên độc quyền pháp lý được xác định trong một phạm vi và thời hạn nhất định. Nếu như chủ sở hữu tài sản vật chất thường có đầy đủ ba quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản, thì đối với TSTT, do tính chất vô hình của tài sản, quyền chiếm hữu hoàn toàn không có ý nghĩa. Quyền SHTT, về bản chất là độc quyền sử dụng, bao gồm cả quyền cho phép người khác sử dụng, định đoạt !° Xem Điểm 8 khoản 8 Điều | Hiến pháp Hoa Kỳ.
19 hoặc quyền ngăn cam người khác sử dụng đối tượng SHTT, tức guyén độc quyên phủ định (negative right). Quyền sở hữu tài sản vật chất không bị hạn chế về phạm vi và thời hạn bảo hộ cho đến chừng nào phát sinh những sự kiện pháp lý là căn cứ làm chấm dứt quyền sở hữu. Trong khi đó, quyền SHTT là “độc quyền mang tính giới hạn”! Tính giới hạn thể hiện ở chỗ: (i) quyền SHTT bị giới hạn về thời hạn bảo hộ; (ii) quyền SHTT bị giới hạn trong những trường hợp cần phải bao vệ lợi ích công cộng, quyền và lợi ich hợp pháp của người khác.