Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Bảo hiểm tài sản là bộ phận quan trọng của bảo hiểm phi nhân thọ, giữ vai trò thiết yếu trong việc bảo vệ quyền lợi tài chính cho các chủ thể và đóng góp vào sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành pháp luật bảo hiểm tài sản tại Việt Nam còn nhiều bất cập: chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe, quy định còn kẽ hở dẫn đến tình trạng trục lợi bảo hiểm (như mua bảo hiểm cho cùng một đối tượng tại nhiều doanh nghiệp bảo hiểm), kéo dài thời gian giải quyết bồi thường hoặc cố tình từ chối trách nhiệm bảo hiểm. Bên cạnh đó, sau khi Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 được ban hành cùng các văn bản hướng dẫn thi hành, hệ thống lý luận và thực tiễn áp dụng đòi hỏi phải có những nghiên cứu cập nhật, đánh giá toàn diện để tháo gỡ các vướng mắc phát sinh.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là hệ thống hóa những nội dung lý luận về pháp luật điều chỉnh bảo hiểm tài sản, đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành và đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thi hành tại Việt Nam. Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định 03 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa, phân tích những nội dung lý luận cơ bản về bảo hiểm tài sản và pháp luật về bảo hiểm tài sản.
- Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về bảo hiểm tài sản theo Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 và các văn bản hướng dẫn thi hành; chỉ ra những điểm hợp lý, hạn chế và mâu thuẫn giữa các quy định.
- Làm rõ định hướng và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về bảo hiểm tài sản ở Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận bao gồm các vấn đề lý luận về pháp luật điều chỉnh bảo hiểm tài sản, quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu được xác lập như sau:
- Phạm vi không gian: Tập trung vào các nội dung pháp luật điều chỉnh bảo hiểm tài sản tại Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Trọng tâm là các quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 và các văn bản hướng dẫn thi hành, đồng thời mở rộng nghiên cứu giai đoạn trước năm 2022 để so sánh, đánh giá sự thay đổi.
- Giới hạn nội dung: Chỉ giới hạn nghiên cứu trong nhóm chủ thể thực hiện là doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam; không đi sâu phân tích nhóm chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận dựa trên hệ thống khái niệm, mô hình lý luận và văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành:
- Khung lý thuyết và quan niệm học thuật: Tiếp thu quan điểm của Dennis Kessler (SCOR SE), Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (2004), Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2005), Học viện Tài chính (2010), Trường Đại học Luật Hà Nội (2023), Hiệp hội các Cơ quan Quản lý Bảo hiểm Quốc gia Hoa Kỳ - NAIC (2011), Jérôme Yeatman (2001) và Trần Văn Biên (2014) về bản chất phân chia rủi ro, cấu trúc quan hệ pháp luật bảo hiểm và khung giám sát nhà nước.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Bộ luật Dân sự năm 2015 (đặc biệt là Điều 105 về tài sản và Điều 197 về tài sản công), Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022, Nghị định số 100/CP ngày 18/12/1993, Nghị định số 46/2023/NĐ-CP ngày 01/07/2023, Thông tư số 67/2023/TT-BTC ngày 02/11/2023, Luật Doanh nghiệp năm 2020 và các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam.
- Kế thừa các công trình nghiên cứu trước: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thủy (2008), sách chuyên khảo của Nguyễn Thị Thủy (2017), luận văn thạc sĩ của Trần Phước Thu (2014), luận văn thạc sĩ của Hồ Thị Hồng Huế (2019), bài viết tạp chí của Bạch Thị Nhã Nam (2018).
Phương pháp nghiên cứu được triển khai trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp các phương pháp chuyên ngành luật học:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương để làm rõ khái niệm, đặc điểm, đánh giá tính hợp lý, hạn chế của quy định pháp luật và xây dựng luận cứ cho các giải pháp.
- Phương pháp luật học so sánh: Đối chiếu quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 với pháp luật giai đoạn trước và pháp luật một số quốc gia, vùng lãnh thổ (Anh, Đức, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan) nhằm nhận diện sự tương thích và điểm khác biệt.
- Phương pháp phân tích logic quy phạm: Dùng tại Chương 2 và Chương 3 để rà soát tính đồng bộ, thống nhất nội tại giữa các điều luật, phát hiện xung đột quy phạm giữa Luật Kinh doanh bảo hiểm với Bộ luật Dân sự và Luật Doanh nghiệp.
Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình chuẩn mực của các cơ sở đào tạo luật và kinh tế, sách chuyên khảo, bài báo khoa học trên các tạp chí pháp lý chuyên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo hiểm tài sản và pháp luật về bảo hiểm tài sản
Chương này tập trung làm rõ bản chất kinh tế - pháp lý của bảo hiểm tài sản và cấu trúc khung pháp luật điều chỉnh loại hình này. Bảo hiểm tài sản được xác định là loại hình bảo hiểm có đối tượng được bảo hiểm là tài sản theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 (gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; bao gồm bất động sản và động sản hiện có hoặc hình thành trong tương lai).
Tác giả phân tích 05 đặc điểm đặc thù của bảo hiểm tài sản:
- Hình thành từ nhu cầu bảo vệ quyền lợi tài chính của chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu, sử dụng hợp pháp tài sản (người tham gia phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm).
- Giới hạn trách nhiệm bảo hiểm căn cứ theo giá trị tài sản tại thời điểm giao kết hợp đồng.
- Giải quyết khiếu nại bồi thường tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc bồi thường: căn cứ theo giá trị thị trường và thiệt hại thực tế; mục đích chỉ bù đắp tổn thất, không tạo cơ hội kiếm lợi; áp dụng 3 hình thức bồi thường (sửa chữa, thay thế, trả tiền bồi thường).
- Áp dụng nguyên tắc thế quyền hợp pháp (DNBH thế quyền người được bảo hiểm để đòi người thứ ba có lỗi, trừ trường hợp người gây lỗi là cha mẹ, vợ chồng, con cái).
- Vận dụng nguyên tắc bồi thường trong trường hợp bảo hiểm trùng (các DNBH chia sẻ trách nhiệm theo tỷ lệ, tổng bồi thường không vượt quá giá trị thiệt hại thực tế).
Khóa luận thiết lập sự phân biệt giữa bảo hiểm tài sản với các loại hình bảo hiểm thương mại cơ bản khác:
| Tiêu chí phân biệt |
Bảo hiểm tài sản |
Bảo hiểm con người |
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự |
| Đối tượng bảo hiểm |
Tài sản (vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản) định giá được bằng tiền. |
Tính mạng, tuổi thọ, sức khỏe, tai nạn (phạm trù phi giá trị hóa). |
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người thứ ba (mang tính trừu tượng). |
| Bản chất bồi thường/chi trả |
Bồi thường tương xứng thiệt hại thực tế, mang tính khắc phục tổn thất. |
Trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận (có yếu tố tích lũy, đầu tư sinh lợi). |
Gánh chịu thay nghĩa vụ bồi thường nhằm bảo vệ quyền lợi người bị thiệt hại. |
| Tính chất tham gia |
Tự nguyện theo nhu cầu bảo vệ tài sản của chủ thể. |
Tự nguyện theo nhu cầu cá nhân. |
Tự nguyện hoặc bắt buộc theo quy định pháp luật. |
Về mặt lý luận, tác giả khẳng định pháp luật bảo hiểm tài sản cấu thành từ 03 nhóm quy phạm chính: quy phạm về chủ thể tham gia, quy phạm về hợp đồng bảo hiểm tài sản và quy phạm về quản lý nhà nước.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo hiểm tài sản ở Việt Nam
Chương 2 phân tích chi tiết thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và chỉ ra những điểm bất cập, xung đột quy phạm cụ thể:
Thực trạng pháp luật về chủ thể:
- Doanh nghiệp bảo hiểm: Pháp luật quy định DNBH chỉ được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty TNHH, loại trừ mô hình công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. Vốn điều lệ tối thiểu được nâng lên theo Nghị định số 46/2023/NĐ-CP: 400 tỷ đồng đối với DNBH phi nhân thọ (trừ bảo hiểm hàng không, vệ tinh) và bảo hiểm sức khỏe; 450 tỷ đồng nếu kinh doanh thêm bảo hiểm hàng không hoặc vệ tinh; 500 tỷ đồng nếu kinh doanh cả bảo hiểm hàng không và vệ tinh. Cổ đông nước ngoài được phép sở hữu tối đa 100% vốn điều lệ.
- Bất cập về quản trị doanh nghiệp: Quy định về tổ chức quản lý DNBH dạng công ty TNHH chưa đồng bộ với Luật Doanh nghiệp (Luật Kinh doanh bảo hiểm chỉ tiếp cận theo mô hình TNHH 1 thành viên, bỏ ngỏ mô hình TNHH 2 thành viên trở lên). Đối với công ty cổ phần, Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định cứng Ban kiểm soát phải có từ 3 đến 5 kiểm soát viên, không dẫn chiếu các trường hợp miễn trừ của Luật Doanh nghiệp. Ngoài ra, thiếu quy định cụ thể về tiêu chuẩn, nhiệm vụ của thành viên độc lập HĐQT và thành viên HĐQT không điều hành trong mô hình quản trị một cấp.
- Chủ thể trung gian: Cá nhân làm đại lý bảo hiểm không hoạt động trong 3 năm liên tục phải thi lấy chứng chỉ mới; đại lý tổ chức chỉ được làm đại lý cho DNBH khác khi có văn bản chấp thuận. Thực tiễn xuất hiện hiện tượng các ngân hàng thương mại ép khách hàng mua bảo hiểm tài sản (nhà, xe thế chấp) mới giải ngân vốn vay. Đối với môi giới bảo hiểm, vốn điều lệ tối thiểu là 5 tỷ đồng (môi giới gốc hoặc tái bảo hiểm) và 10 tỷ đồng (cả gốc và tái bảo hiểm); nội dung hoạt động tại Điều 131 có sự mở rộng hơn so với định nghĩa tại Khoản 21 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022.
Thực trạng pháp luật về hợp đồng bảo hiểm tài sản:
- Tác giả chỉ ra sự thiếu đồng bộ tại Điều 7 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022: phân loại nghiệp vụ gồm 3 loại hình (nhân thọ, phi nhân thọ, sức khỏe) nhưng lại liệt kê 5 loại hợp đồng bảo hiểm độc lập.
- Xung đột về thời điểm xác định quyền lợi có thể được bảo hiểm: Khoản 3 Điều 44 quy định bên mua bảo hiểm phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm tại thời điểm xảy ra tổn thất; tuy nhiên Điểm a Khoản 1 Điều 25 lại quy định hợp đồng vô hiệu ngay từ thời điểm giao kết nếu bên mua không có quyền lợi có thể được bảo hiểm, dẫn đến mâu thuẫn khi áp dụng.
- Xung đột chế tài xử lý thông tin gian dối: Điều 22 quy định bên mua cố ý cung cấp sai thông tin để trục lợi thì DNBH có quyền hủy bỏ hợp đồng, trong khi Điểm h Khoản 1 Điều 25 quy định trường hợp lừa dối khi giao kết hợp đồng thì hợp đồng bị vô hiệu. Hai quy định này dẫn đến hậu quả pháp lý khác nhau cho cùng một bản chất hành vi.
- Đối tượng bảo hiểm: Chưa có quy chế pháp lý rõ ràng điều chỉnh việc bảo hiểm đối với tài sản công (Điều 197 Bộ luật Dân sự năm 2015, hiện do gần 90.000 cơ quan quản lý) và tài sản số phát sinh từ cách mạng công nghiệp 4.0.
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tài sản ở Việt Nam
Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp thi hành:
- Hoàn thiện quy định về chủ thể: Sửa đổi, bổ sung quy định về cơ cấu tổ chức quản lý DNBH nhằm bảo đảm tính tương thích với Luật Doanh nghiệp năm 2020; quy định chi tiết địa vị pháp lý, quyền hạn và trách nhiệm của thành viên độc lập HĐQT, thành viên HĐQT không điều hành; chuẩn hóa định nghĩa và phạm vi hoạt động của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm tại Điều 4 và Điều 131.
- Hoàn thiện quy định về hợp đồng bảo hiểm tài sản: Điều chỉnh Điều 7 để thống nhất cách phân loại hợp đồng theo 3 loại hình bảo hiểm; xử lý mâu thuẫn giữa Điều 25 và Điều 44 về thời điểm tồn tại quyền lợi có thể được bảo hiểm; thống nhất hậu quả pháp lý giữa Điều 22 và Điều 25 đối với hành vi lừa dối, cung cấp thông tin sai lệch; xây dựng hành lang pháp lý điều chỉnh bảo hiểm tài sản công và tài sản số.
- Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành: Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động phân phối bảo hiểm qua kênh ngân hàng (bancassurance); siết chặt chế tài xử lý đại lý tổ chức vi phạm; chuẩn hóa đào tạo đại lý và nâng cao năng lực quản trị rủi ro của DNBH; đẩy mạnh tuyên truyền nghĩa vụ kê khai thông tin trung thực của bên mua bảo hiểm.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả và đóng góp cụ thể sau:
- Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về bảo hiểm tài sản, phân tích rõ 5 đặc điểm pháp lý đặc thù và làm rõ sự khác biệt giữa bảo hiểm tài sản với bảo hiểm con người và bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
- Phát hiện và phân tích chi tiết các điểm xung đột, chưa tương thích trong hệ thống văn bản pháp luật hiện hành, bao gồm:
- Mâu thuẫn giữa Khoản 3 Điều 44 và Điểm a Khoản 1 Điều 25 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 về thời điểm xác định quyền lợi có thể được bảo hiểm.
- Sự thiếu nhất quán về hậu quả pháp lý giữa Điều 22 (hủy bỏ hợp đồng) và Điểm h Khoản 1 Điều 25 (hợp đồng vô hiệu) đối với hành vi lừa dối/cung cấp sai thông tin.
- Điểm vênh giữa quy định quản trị nội bộ DNBH tại Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 với Luật Doanh nghiệp năm 2020.
- Trích xuất và hệ thống các số liệu, tiêu chuẩn pháp lý mới theo Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022, Nghị định số 46/2023/NĐ-CP và Thông tư số 67/2023/TT-BTC: mức vốn pháp định tối thiểu của DNBH phi nhân thọ (400 - 450 - 500 tỷ đồng), vốn điều lệ tối thiểu của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm (5 - 10 tỷ đồng), tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (lên đến 100%), thời hạn thi lại chứng chỉ đại lý (sau 3 năm không hoạt động liên tục).
- Đóng góp so với nghiên cứu trước: Khắc phục khoảng trống học thuật của các công trình trước đây vốn chủ yếu dựa trên Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi 2010), đem lại công trình đánh giá trực tiếp trên nền tảng Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có các giới hạn nghiên cứu được tác giả nêu rõ:
- Giới hạn phạm vi chủ thể: Do dung lượng giới hạn, đề tài chỉ nghiên cứu nhóm DNBH thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam, không đi sâu phân tích mô hình hoạt động của các chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài tại Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn: Khóa luận chưa bao quát toàn bộ các bản án, tranh chấp thực tế tại hệ thống Tòa án nhân dân các cấp đối với từng loại hợp đồng bảo hiểm tài sản cụ thể.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế quản lý rủi ro và khung pháp lý điều chỉnh bảo hiểm tài sản công và bảo hiểm tài sản số tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật (Luật Kinh tế, Luật Dân sự, Luật Thương mại quốc tế) tham khảo phương pháp phân tích quy phạm và kỹ thuật chỉ ra xung đột pháp luật thực định.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, tài chính - ngân hàng sử dụng làm tài liệu đối chiếu các quy định mới của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 so với các luật tiền nhiệm.
- Cán bộ pháp chế tại các doanh nghiệp bảo hiểm, công ty môi giới bảo hiểm và ngân hàng thương mại tham khảo các luận điểm về điều khoản hợp đồng vô hiệu, quản trị đại lý và nguyên tắc bồi thường.
- Phần đáng tham khảo nhất: Nội dung phân tích các bất cập pháp lý tại Chương 2 (xung đột giữa Điều 22, Điều 25 và Điều 44 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022) và hệ thống tiêu chí phân biệt các loại hình bảo hiểm tại Chương 1.
Câu hỏi thường gặp
1. Vốn điều lệ tối thiểu đối với doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm theo quy định hiện hành là bao nhiêu?
Theo quy định tại Điều 35 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP được trích dẫn trong khóa luận:
- Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ: tối thiểu 400 tỷ đồng (kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ và sức khỏe); tối thiểu 450 tỷ đồng nếu có thêm bảo hiểm hàng không hoặc vệ tinh; tối thiểu 500 tỷ đồng nếu kinh doanh cả hàng không và vệ tinh.
- Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm: tối thiểu 5 tỷ đồng đối với môi giới bảo hiểm gốc hoặc tái bảo hiểm; tối thiểu 10 tỷ đồng nếu kinh doanh cả môi giới bảo hiểm gốc và tái bảo hiểm.
2. Điểm mâu thuẫn giữa quy định về quyền lợi có thể được bảo hiểm và hợp đồng vô hiệu trong Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 là gì?
Khoản 3 Điều 44 quy định bên mua bảo hiểm phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm tại thời điểm xảy ra tổn thất (nhằm dự liệu trường hợp quyền lợi chưa xác định được khi giao kết). Tuy nhiên, Điểm a Khoản 1 Điều 25 lại quy định hợp đồng bảo hiểm vô hiệu ngay tại thời điểm giao kết nếu bên mua không có quyền lợi có thể được bảo hiểm, tạo ra sự xung đột quy phạm trực tiếp.
3. Khác biệt về hậu quả pháp lý giữa Điều 22 và Điểm h Khoản 1 Điều 25 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 đối với hành vi cung cấp sai thông tin là gì?
Điều 22 quy định bên mua cố ý cung cấp sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng để được bồi thường thì DNBH có quyền hủy bỏ hợp đồng (không bồi thường, hoàn lại phí sau khi trừ chi phí hợp lý). Trong khi đó, Điểm h Khoản 1 Điều 25 lại xác định hợp đồng bị vô hiệu do bị lừa dối, dẫn đến hai cơ chế giải quyết hậu quả pháp lý khác nhau cho cùng một bản chất hành vi.
4. Cá nhân đã có chứng chỉ đại lý bảo hiểm nhưng không hành nghề thì sau bao lâu phải thi lại?
Theo quy định tại Điều 125 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022, cá nhân đã được cấp chứng chỉ đại lý bảo hiểm nhưng không hoạt động đại lý bảo hiểm trong thời hạn 03 năm liên tục phải thực hiện thi lấy chứng chỉ đại lý bảo hiểm mới trước khi hoạt động lại.
5. Khóa luận chỉ ra thực trạng bất cập nào nổi bật trong hoạt động của đại lý bảo hiểm là ngân hàng thương mại?
Thực tiễn xuất hiện hiện tượng một số ngân hàng thương mại yêu cầu khách hàng bắt buộc phải mua bảo hiểm tài sản đối với tài sản thế chấp (như nhà, xe) thì mới giải ngân vốn vay, đồng thời pháp luật còn thiếu quy định gắn trách nhiệm cụ thể đối với người chịu trách nhiệm chính trong đại lý tổ chức.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Minh Ngọc đã hệ thống hóa lý luận cơ bản về bảo hiểm tài sản và khung pháp luật điều chỉnh loại hình này tại Việt Nam. Công trình tập trung phân tích các quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 và các văn bản hướng dẫn, chỉ rõ những điểm tiến bộ cũng như các mâu thuẫn nội tại về chủ thể, hợp đồng vô hiệu và quản lý đại lý. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành trong thực tiễn.