chương Ill “Chủ thể của tư pháp quốc tế”, NXB Tư pháp, Hà Nội; - Viện nghiên cứu lập pháp - Trung tâm nghiên cứu khoa học, Chuyên đề nghiên cứu “Cự tri, diéu kiện cư trú của người nước ngoài tai Việt Nam - thực trạng và kiến nghị“, Hà Nội - tháng 10/2013; - Phạm Đức Chính, “Quản lý nhà nước về cư trú của người nước ngoài trên địa bàn Thành pho Ha Nói”, Luan văn thạc sĩ Luật hoc, Hoc viện khoa hoc xã hội - Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội, 2018 - Trần Thị Hồng Thu (2011), “Hoàn thiện pháp luật vé dia vị pháp ly của người nước ngoài tại Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - DHQGHN; - Uy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội (2013) khảo sát về “Viéc thực hiện chính sách, pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của NNN tại Việt Nam’. Như vậy, các công trình kế tên trên đã nghiên cứu một số van dé pháp lý và thực tiễn liên quan đến hoạt động XNC, cư trú, đi lại của NNN tại Việt Nam. Tuy nhiên, các công trình, bài viết, nghiên cứu hầu như mới chỉ đề cập đến một 3 số khía cạnh pháp lý về hoạt động XNC, cư trú, đi lại của NNN mà chưa công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về cả ba hoạt động XNC, cư trú và đi lại của NNN tại Việt Nam, nhất là trong giai đoạn hiện nay pháp luật Việt Nam có nhiều điểm mới điều chỉnh về hoạt động này, Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Pháp luật điều chỉnh hoạt động xuất, nhập cảnh, cw tru, di lai của người nước ngoài tai Việt Nam - Thực trạng và giải pháp " là vẫn đề mới, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện từ trước đến nay, nhất là sau khi Việt Nam ban hành Luật XNC của NNN tai Việt Nam năm 2014 và một số văn bản hướng dẫn. Mục tiêu đề tài Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ: - Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động XNC, cư trú, đi lại của NNN tại Việt Nam; - Việc đảm bảo thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam có liên quan đến hoạt động xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại của NNN tại Việt Nam; - Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về XNC, cư trú, đi lại của NNN tại Việt Nam.
Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 4. Cách tiếp cận: Đề tài tiếp cận các vẫn đề nghiên cứu từ các góc độ sau: - Tiếp cận từ chính sách của Đảng và Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế; - Tiếp cận từ cơ sở lý luận về NNN trong tư pháp quốc tế; - Tiép cận từ thực tiễn về hoạt động xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại của NNN tại Việt Nam; - Tiếp cận từ những định hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2020. Các phương pháp nghiên cứu: Đề thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: Tổng hợp, phân tích, thống kê, khái quát hóa.
Đây là phương pháp truyền thống, đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn. Đặc biệt đề tài sử dụng phương 4 pháp so sánh. Phương pháp so sánh được sử dụng trong các chuyên đề của đề tài nhằm làm rõ những điểm mới của pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh hoạt động XNC, cư trú, đi lại của NNN tại Việt Nam. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5.
Đối trợng nghiên cứu Đề tài xác định đối tượng nghiên cứu chủ yếu là: - Quy định của pháp luật Việt Nam về XNC, cư trú, đi lại của NNN tại Việt Nam; - Các cam kết quốc tế của Việt Nam có liên quan đến hoạt động XNC, cư trú, đi lại của NNN tại Việt Nam; - Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về XNC, cư trú, đi lại của NNN tại Việt Nam. Pham vi nghién cứu Pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động XNC, cư trú, đi lại của NNN tại Việt Nam là vẫn đề tương đối rộng, do vậy, đề tài không có tham vọng nghiên cứu tat cả các van dé mà giới hạn nghiên cứu: - Về mặt nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về hoạt động XNC, cư trú, đi lại của NNN tại Việt Nam trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và pháp luật Việt Nam. - Về mặt thời gian: Nghiên cứu pháp luật Việt Nam và thực tiễn thi hành pháp luật điều chỉnh hoạt động XNC, cư trú, đi lại của NNN tại Việt Nam từ năm 2014 - nay (cụ thê từ khi Quốc Hội ban hành Luật XNC năm 2014 và các văn bản hướng dẫn). - Về mặt không gian: Đánh giá thực trạng thi hành pháp luật điều chỉnh hoạt động XNC, cư trú, đi lại của NNN tại Việt Nam tại một số thành phó lớn ở Việt Nam, tập trung đông NNN: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Khánh Hòa.
Nội dung nghiên cứu - Khái quát chung về NNN, pháp luật điều chỉnh hoạt động XNC, cư trú, đi lại của NNN tại Việt Nam; - Pháp luật điều chỉnh hoạt động XNC, đi lại của NNN tại Việt Nam; - Pháp luật điều chỉnh hoạt động cư trú của NNN tại Việt Nam; - Các cam kết quốc tế của Việt Nam có liên quan đến hoạt động XNC, cư trú, đi lại của NNN tại Việt Nam. PHẢN II BAO CAO TONG HỢP KET QUÁ NGHIÊN CỨU I. KHÁI QUAT CHUNG VE NGƯỜI NƯỚC NGOÀI, PHÁP LUẬT DIEU CHINH HOAT ĐỘNG XUẤT NHẬP CẢNH, CƯ TRU, ĐI LAI CUA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 1. Khái quát chung về người nước ngoài 1.
Khái niệm người nước ngoài Hiện nay, trong khoa học pháp lý các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng có cách tiếp cận khá giống nhau về khái niệm NNN. Từ đó, NNN được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, NNN được hiểu là tất cả những người không có quốc tịch của nước sở tại. Điều đó có nghĩa là bất kỳ một cá nhân nào không mang quốc tịch của quốc gia SỞ tại đều được xác định là NNN. Theo cách hiểu này NNN bao gồm cả người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch.
Theo nghĩa hẹp, NNN là người có quốc tịch nước khác và không phải là công dân của nước sở tại. Theo cách tiếp cận này, người không quốc tịch không phải là NNN. Ở Việt Nam có khá nhiều văn bản pháp luật định nghĩa về NNN. Chang han: Điều 3 khoản 5 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008: NNN cư trú ở Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam; Điều 3 khoản 1 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của NNN tại Việt Nam năm 2014 (sau đây viết tắt là Luật XNC), định nghĩa: NNN là người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam.
Từ các định nghĩa trên có thé hiểu: “øgười nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gom người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch”. Như vậy, theo định nghĩa này NNN bao gồm2 loại là người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch. 7 - Quốc tịch nước ngoài là quốc tịch của một nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam (Điều 3 khoản I Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008). Như vậy, NNN theo quy định của pháp luật Việt Nam bao gồm các nhóm sau: + Người mang quốc tịch của một quốc gia khác; + Người mang nhiều quốc tịch nhưng không có quốc tịch Việt Nam.
- Người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài (Điều 3 khoản 2 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008). Nang lực pháp luật va năng lực hành vi của người nHớc ngoài NNN là một trong những chủ thé cơ bản của TPQT. Năng lực pháp luật va năng lực hành vi là thuộc tính vốn có của một chủ thê pháp luật để người đó tham gia vào các quan hệ pháp luật nhất định. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là người nước ngoài Luật pháp các nước thường quy định: Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là NNN được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch hoặc pháp luật mà người đó cư trú.
Ở Việt Nam, dé xác định năng lực pháp luật dân sự của NNN, Điều 673 Bộ luật dan sự (BLDS) 2015 quy định hai nguyên tắc sau: - Thứ nhất, "Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch". Với quy định này, cá nhân là công dân của quốc gia nao thì năng lực pháp luật của họ sẽ xác định theo pháp luật của quốc gia đó. - Thư hai, “người nước ngoài tại Việt Nam có năng lực pháp luật dân sự như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác” (khoản 2 Điều 673 BLDS). Theo trường hợp này, khi NNN tại Việt Nam và tham gia các quan hệ dân sự thì năng lực pháp luật của người đó được xác định như công dân Việt Nam và theo pháp luật Việt Nam.
Tuy nhiên, NNN tại Việt Nam, không phải trong mọi trường hợp người đó đều có năng lực pháp luật dân sự như công dân Việt Nam. Pháp luật Việt Nam cũng như hầu hết pháp luật các nước đều có những quy định về quyền và nghĩa vụ dành riêng cho công dân nước mình, ví dụ, 8 quyền được phục vụ trong lực vũ trang như công an, quân đội. chỉ dành riêng cho công dân Việt Nam (trừ một số trường hợp ngoại lệ)°. Năng lực hành vi dán sự của cá nhân là người nước ngoài Đại đa số luật pháp các nước áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch (Lex patriae), riêng hệ thống luật Anh - Mỹ (Common law) lại áp dụng nguyên tắc luật nơi cư trú (Lex domicille) để giải quyết.
Ở Việt Nam, để xác định năng lực hành vi dân sự cua NNN, Điều 674 BLDS 2015 chia thành các trường hợp sau: Thứ nhất, khoản 1 Điều 674 quy định "Năng lực hành vi dân sự của cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này".