Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về chính sách pháp luật hình sự đối với các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Chương 2: Những vấn đề lý luận về chính sách pháp luật hình sự đối với các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Chương 3: Đánh giá chính sách pháp luật hình sự Việt Nam đối với các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Chương 4: Hoàn thiện chính sách pháp luật hình sự đối với các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam. 10 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài * Các công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách pháp luật hình sự Chính sách pháp luật hình sự được nhận thức trên nền tảng của CSHS, do đó, cần phải nhận thức được nội hàm của CSHS.
Trên thế giới, đặc biệt là các nhà khoa học người Nga đã đưa ra một số nhận thức về CSHS, cụ thể: GS.TSKH luật Gertxenzôn A. coi chính sách hình sự được thể hiện trong quá trình áp dụng trên thực tiễn không chỉ các biện pháp chuyên ngành như điều tra tội phạm, pháp luật hình sự, tố tụng hình sự, cải tạo lao động, mà còn cả các biện pháp chỉ đơn thuần mang tính chất xã hội như kinh tế, tư tưởng, y học, v. Với cách tiếp cận này, CSHS được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất quá trình áp dụng các biện pháp pháp lý cùng với các biện pháp kinh tế - xã hội khác để đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tong cuốn sách chuyên khảo về“Chính sách hình sự của Nhà nước Xô Viết” của mình, Tiến sĩ Luật học Bobetev được viết vào năm 1884, đã đề cập một số nội dung cơ bản liên quan đến quá trình phát triển và hoàn thiện CSHS của Nhà nước Xô Viết, trong đó thể hiện rõ nhất qua các hoạt động tội phạm hóa, phi tội phạm hóa, hình sự hóa, phi hình sự hóa nhằm đáp ứng yêu cầu của từng giai đoạn phát triển đất nước.
Công trình này thực sự có ý nghĩa về mặt cơ sở lý luận, cung cấp luận cứ khoa học cho việc nghiên cứu các nội dung của luận án. Làm nổi bật các nội dung của hoạt động lập pháp hình sự, với tính chất là một trong các hoạt động thực hiện CSHS. Tuy nhiên, những vấn đề như mục tiêu, các nguyên tắc, nhiệm vụ, nội dung, các phương tiện thực hiện CSHS chưa được đề cập và nghiên cứu một cách đầy đủ.Zdravomưsolov cho rằng “CSHS là tổng thể các quan điểm, tư tưởng và quan niệm thống trị trong xã hội ở một giai đoạn nhất định về các định hướng cơ bản, về các biện pháp và cách thức đấu tranh với tình hình tội phạm” [13, tr 11]. Khái niệm này cũng tiếp cận CSHS dưới góc độ các quan điểm, tư tưởng để đấu tranh phòng, chống tội phạm.
mà chưa xác định được CSHS là hoạt động vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn trong việc xác định các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm. Chính sách pháp luật hình sự với tư cách là một bộ phận cấu thành của chính sách hình sự lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1804 trong các công trình của nhà hình pháp học nổi tiếng người Đức Ansel’m Fheirbakh, được thể hiện trong các cuốn như: “Lược sử chính sách pháp luật hình sự: khái niệm, lịch sử và những vấn đề cơ bản của chính sách pháp luật hình sự với tư cách là một yếu tố cấu thành của khoa học luật hình sự” của tác giả Chubinskij M.P, Mátxcơva, 2008 (Tiếng Nga), hay tác giả Lesnikov G.Ju có cuốn “Chính sách pháp luật hình sự của Liên Bang Nga: những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Mátxcơva, 2004 (Tiếng Nga)… Những công trình này đã góp phần vào sự hình thành hướng nghiên cứu ngành khoa học đọc lập trong luật học, đó là chính sách pháp luật hình sự nói riêng và chính sách hình sự nói chung. * Các công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách pháp luật hình sự đối với các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ: Qua quá trình nghiên cứu của tác giả, hiện chưa có một công trình nào trên thế giới nghiên cứu về CSPLHS đối với các tội xâm phạm quyền SHTT. Tuy nhiên, các công trình lại có những cách tiếp cận khác nhau liên quan đến tội phạm xâm phạm quyền SHTT, dưới góc độ là các quy định của pháp luật về tội phạm, hoặc là việc thực thi quyền SHTT bằng các biện pháp pháp lý, trong đó có biện pháp hình sự… Vì vậy luận án xin nêu ra một số công trình đó, để bổ sung cho hoạt động nghiên cứu và nhận thức về nhóm tội phạm này, làm cơ sở cho việc nghiên cứu dưới gốc độ chính sách pháp luật hình sự.
- Báo cáo của Trung tâm Quốc gia nghiên cứu tội phạm cổ cồn trắng Mỹ về chủ đề “Intellectual Property and White-collar Crime” (Tạm dịch: SHTT và tội 12 phạm cổ cồn trắng) vào năm 2004, đây là bài báo cáo nghiên cứu gửi đến Bộ Tư pháp Mỹ. Bài báo cáo đã kiểm tra về mối liên hệ giữa SHTT (IP) và tội phạm cổ cồn trắng (WCC). Nghiên cứu này tạo ra một bức tranh mạch lạc của mối liên kết giữa IP và WCC và chỉ ra lợi ích cho các nhà hoạch định chính sách trong việc phát triển pháp luật SHTT. Báo cáo đề cập lý luận về quyền SHTT, đề cập đến loại tội phạm (chủ yếu trong hoạt động kinh doanh) do những người có học thức, có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ cao thực hiện, nhằm mục đích trục lợi hoặc động cơ cá nhân khác.
Báo cáo đã đưa ra được bức tranh về những tội phạm cổ cồn trắng và ảnh hưởng của nó trong đời sống xã hội, đặc biệt xâm phạm đến quyền SHTT. Trong báo cáo, tác giả đã chỉ ra những vấn đề cần nghiên cứu và giải quyết trong tương lai đối với quyền SHTT liên quan tội phạm cổ cồn trắng. - Báo cáo của Học viện Tội phạm học Úc do Judy Putt chủ trì về chủ đề “Intellectual property crime and enforcement in Australia” (Tạm dịch: Tội phạm và thực thi sở hữu trí tuệ ở Úc) vào năm 2008. Bài viết đã đề cập đến tội phạm (đặc biệt tội phạm xuyên quốc gia và tội phạm có tổ chức) trong lĩnh vực kinh tế, gây ảnh hưởng đến Nhà nước, người tiêu dùng của nước Úc.
Nghiên cứu về vi phạm quyền SHTT trong lĩnh vực công nghiệp bao trùm lên nhiều hoạt động trong đời sống xã hội như công nghiệp điện ảnh, về đồ chơi, về dệt may. Báo cáo cũng đã nêu những quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và một số ngành luật khác trong việc bảo vệ quyền SHTT này. Các tác giả đã chỉ ra những ưu và nhược điểm trong việc thực thi quyền SHTT bằng pháp luật hình sự, trên cơ sở sự đánh giá qua cơ chế kiện tụng, quy trình giải quyết chủ yếu tập trung ở Tòa sơ thẩm Liên bang và Tòa án liên bang Úc, cũng như các cơ quan chuyên trách khác như Hải quan, Công an. Trong Báo cáo này, các tác giả cũng đề cập đến các chính sách về SHTT, đặc biệt các chính sách của Nhà nước về việc xử lý các vi phạm SHTT, trong đó có biện pháp xử lý hình sự.
- Cuốn Sổ tay Nghiên cứu Đương đại “Thi hành hình sự về sở hữu trí tuệ” do tiến sĩ Rita Matulionyte, Phó viện trưởng Viện Luật Lithuania chủ biên vào năm 2013. Đây là Cuốn Sổ tay Nghiên cứu toàn diện, đưa ra một đánh giá đầy đủ và có 13 hệ thống về khuôn khổ thực thi hình sự đối với quyền SHTT. Tác giả chỉ ra các quan điểm pháp lý, kinh tế, lịch sử và tư pháp cho vấn đề thực thi quyền SHTT. Điều đặc biệt, cuốn sổ tay đã đưa ra các cách tiếp cận khác nhau theo từng ngành cho vấn đề thực thi, để thấy được những thiếu sót và hạn chế trong quy định và thực thi pháp luật hình sự đối với quyền SHTT hiện tại.
Trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng và có hệ thống, logic việc thi hành hình sự về SHTT, Rita Matulionyte đã đưa ra những kết luận hữu ích cho các sáng kiến lập pháp trong tương lai cho các nước châu Âu, quốc tế và quốc gia. - Bài viết “Intellectual property rights and economic development” (tạm dịch: Quyền sở hữu trí tuệ và phát triển kinh tế) của giáo sư Keith E. Maskus tại Hội thảo về “Tuân thủ Luật sở hữu trí tuệ Quốc tế" được tổ chức bởi Trung tâm Pháp luật Quốc tế Fredrick K. Cox tại Trường Đại học Case Western Reserve vào năm 2013.
Bài viết đã cung cấp một cái nhìn đầy đủ về ảnh hưởng của quyền SHTT cho sự phát triển kinh tế, thông qua phân tích về cách phát triển kinh tế có thể được thúc đẩy hoặc bị cản trở bởi một hệ thống quyền SHTT có hiệu quả (IPRS). IPRS có thể đóng vai trò tích cực trong việc khuyến khích nền phát triển kinh doanh mới, hợp lý hoá ngành công nghiệp kém hiệu quả và thúc đẩy việc mua lại công nghệ và sáng tạo công nghệ. Lợi ích và tổn thất tiềm tàng phụ thuộc vào cấu trúc cạnh tranh của thị trường và hiệu quả của các quy định kinh doanh liên quan, bao gồm các khía cạnh của chính sách cạnh tranh và chính sách phát triển công nghệ. Bài báo đánh giá những bằng chứng thực nghiệm sẵn có về những vấn đề này.
Đây cũng là bằng chứng ủng hộ quan điểm cho rằng đổi mới sản phẩm là nhạy cảm với IPRS ở các nước đang phát triển, trong khi đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và chuyển giao công nghệ tăng lên khi các bằng sáng chế được tăng cường. Nhìn chung, có một tác động tích cực đến tăng trưởng, nhưng tác động này phụ thuộc vào tính cạnh tranh của nền kinh tế. Báo cáo kết luận bằng cách đưa ra những gợi ý cho cải cách chính sách tổng hợp, hiệu quả cho SHTT trong quá trình phát triển kinh tế. - Bài viết “Criminal Enforcement of Intellectual Property Law – An Economic Approach” (tạm dịch: Thi hành hình sự Luật sở hữu trí tuệ - Dưới góc độ tiếp cận 14 kinh tế) của Andrea Wechsler tại tạp chí Viện Nghiên cứu về SHTT và Nghiên cứu Cạnh tranh Max Planck, Đức năm 2015.